nhà văn Nguyễn Đình Thi cho rằng: tác phẩm văn học vốn hấp dẫn người ta bởi cách nhìn nhận mới, tính chất mới về những điều, những việc mà ai cũng biết cả rồi (nhà văn nói về tác phẩm-nhà xuất bản văn học 1998). hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua bài thơ cảnh khuya và rằm tháng giêng của Hồ Chí Minh
Bạn đủ điều kiện nhận giảm giá Genius tại Can Tho Ecolodge! Để tiết kiệm tại chỗ nghỉ này, bạn chỉ cần đăng nhập. Tọa lạc tại thành phố Cần Thơ, Can Tho Ecolodge có xe đạp cho khách sử dụng miễn phí, hồ bơi ngoài trời, khu vườn và quầy bar. Trong số các tiện nghi
Niềng răng trong suốt là một tiến bộ trong công nghệ thẩm mỹ, đặc biệt là chỉnh nha. Mọi người đã quen với hình ảnh những chiếc mắc cài kim loại thô và nhìn mất thẩm mỹ, được gắn chặt vào răng khiến người niềng răng không thoải mái và mất tự tin khi giao tiếp.
Vì vậy, nên thay đổi thói quen sinh hoạt, thói quen ăn uống, tránh các yếu tố có hại cho dạ dày để phòng bệnh và điều trị bệnh tốt hơn, cải thiện triệu chứng và tránh các biến chứng có hại. Dưới đây là một số điều cần lưu ý để dự phòng bệnh viêm dạ dày
Cách thức lây nhiễm của Adenovirus. Đặc tính của virus Adeno sống khá tốt, chúng có thể tồn tại khoảng 30 ngày nếu sống trong nhiệt độ phòng. Ở điều kiện 40 độ C, virus có thể sống trong nhiều tháng. Thậm chí với điều kiện -200 độ C, thời gian sống của virus Adeno có
Vay Tiền Nhanh Chỉ Cần Cmnd. Giới thiệu tiểu sử và sự nghiệp của nhà văn / nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, và những tác phẩm văn học để đời của viết này được đăng tại không được copy dưới mọi hình thức. Khi nhắc đến những nhà thơ tiêu biểu, có đóng góp to lớn trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thì không thể không nhắc đến cái tên Nguyễn Khoa Điềm. Ông không những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp văn học của đất nước mà còn là một nhà hoạt động chính trị rất tài ba. sử nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm Nguyễn Khoa Điềm sinh ngày 15 tháng 4 năm 1943 tại thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ông là một nhà thơ nổi tiếng, đồng thời là nhà chính trị lớn tại Việt Nam đã từng giữ rất nhiều chức vụ quan trọng trong cơ quan Nhà nước như Thứ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin 1994, Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa V 1995, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương 2001. Ông còn được biết đến với tên gọi khác là Nguyễn Hải Dương. Sinh ra trong thời thế chiến tranh loạn lạc nên từ nhỏ Nguyễn Khoa Điềm đã có tinh thần yêu nước rất mãnh liệt. Hơn nữa, gia đình của ông là một gia đình cách mạng có truyền thống yêu nước và hiếu học, từ ông nội cho đến cha ông là Nguyễn Khoa Đăng đều được rất nhiều người dân mến mộ và ca viết này được đăng tại [free tuts .net] Lúc còn nhỏ ông đi học tại Huế, sau đó ông chuyển ra Bắc sinh sống và học tập tại trường học sinh miền Nam vào năm 1955. Năm 1964, ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội. Từ khi còn là một học sinh, sinh viên ông đã rất tích cực tham gia vào các hoạt động, phong trào thi đua yêu nước như viết báo, viết văn, làm thơ, đồng thời ông cũng tham gia quân đội, xây dựng cơ sở của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Năm 1975, ông trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Sau đó, ông tham gia công tác Đoàn Thanh niên Cộng sản và chính thức trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ Thừa Thiên - Huế. 2. Sự nghiệp văn học của Nguyễn Khoa Điềm Về sự nghiệp văn học, Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Vì trực tiếp tồn tại trong cuộc chiến kháng chiến nên thơ của ông rất giàu tính chiêm nghiệm, đặc biệt hấp dẫn bởi cảm xúc nồng nàn, suy tư sâu lắng và mang màu sắc chính luận - trữ tình. Ông có ý thức rất cao về vai trò cũng như trách nhiệm của một công dân đối với đất nước, vì vậy những áng thơ của ông thể hiện rất rõ tinh thần chiến đấu và bản chất anh hùng bất khuất của những người chiến sĩ Việt Nam. Một trong những tác phẩm nổi tiếng và gắn bó với tên tuổi của Nguyễn Khoa Điềm đó chính là bài thơ “Đất nước” trích trong tập “Trường ca khát vọng” ra đời vào gần cuối năm 1971, ngay tại thời điểm mà kháng chiến chống Mỹ đang trong giai đoạn quyết liệt nhất. Đây là một tác phẩm thành công vang dội, mang đến cho người đọc một cái nhìn toàn vẹn về tinh thần dân tộc và tinh thần yêu nước. Bài thơ đã đi vào lòng nhiều thế hệ người Việt Nam và được đưa vào sách giáo khoa để giảng dạy cho học sinh trong chương trình Chương trình Ngữ văn THPT. Bên cạnh đó, bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của ông cũng được tuyển chọn và đưa vào giảng dạy ở Chương trình Ngữ văn THCS. Ngoài ra, một số tác phẩm tiêu biểu khác của Nguyễn Khoa Điềm có thể nhắc đến như Cửa thép tập ký, 1972 Đất ngoại ô tập thơ, 1973 Mặt đường khát vọng trường ca, 1974 Ngôi nhà có ngọn lửa ấm tập thơ, 1986 Thơ Nguyễn Khoa Điềm tập thơ, 1990 Cõi lặng tập thơ, 2007 Nguyễn Khoa Điềm là người lao động nghệ thuật rất nghiêm túc, ông luôn khắt khe với những tác phẩm của chính mình. Thơ của ông luôn được định hình theo một phong cách riêng, nét riêng. Hầu hết những tác phẩm mà ông sáng tác đều viết về tình yêu quê hương, đất nước và tinh thần dân tộc. Tuy đây là những đề tài quen thuộc được nhiều người sáng tác, nhưng với cách nhìn sáng tạo, mới mẻ cùng tâm hồn cao đẹp đã giúp cho những tác phẩm của ông luôn tạo được dấu ấn riêng trong lòng người đọc.. Ông được trao tặng nhiều giải thưởng về văn học và nghệ thuật, nổi bật là giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ "Ngôi nhà có ngọn lửa ấm" và Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô giải B với tập thơ "Cõi lặng" - năm 2010. Hơn nửa đời người cống hiến cho cách mạng, cho văn học nước nhà thì hiện tại ông đang nghỉ hưu tại quê hương của mình. Tuy sự nghiệp chính trị đã kết thúc, nhưng con đường thơ ca của ông vẫn còn tỏa sáng, hằng ngày ông vẫn làm thơ, đọc sách và tham gia những buổi tọa đàm, những sự kiện văn học.
Thơ Nguyễn Khoa Điềm ❤️️ Trọn Bộ Những Bài Thơ Hay Nhất ✅ Cùng Tìm Hiểu Những Áng Thơ Hay Về Đất Nước, Miền Quê, Thiên Nhiên Của Nhà Thơ Giới Thiệu Về Nhà Thơ Nguyễn Khoa ĐiềmĐất Nước Thơ Nguyễn Khoa ĐiềmPhong Cách Thơ Nguyễn Khoa ĐiềmThơ Nguyễn Khoa ĐiềmTiểu Sử Nhà Thơ Nguyễn Khoa ĐiềmThơ Nguyễn Khoa Điềm Có Sự Kết Hợp GiữaNhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm Còn Sống Không Giới Thiệu Về Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm Một vài thông tin về Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm ngắn gọn và đầy đủ nhất ❣️ Đôi nét về tác giả Nguyễn Khoa Điềm Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943Quê quán thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điềm, tỉnh Thừa Thiên-Huế trong một gia đình trí thức có truyền thống yêu nước và cách mạngNăm 1955, Nguyễn Khoa Điềm ra Bắc học tại trường học sinh miền NamSau khi tốt nghiệp khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, ông về Nam hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên thành phố, xây dựng cơ sở cách mạng, viết báo, làm thơ..Sau ngày thống nhất đất nước, ông tiếp tục hoạt động chính trị và văn nghệ ở Thừa Thiên – HuếNăm 2000, ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuậtNguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, cứu nướcTác phẩm chính Đất ngoại ô, Mặt đường khát vọng, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Thơ Nguyễn Khoa Điềm, Cõi lặng 🌻 Ngoài Thơ Nguyễn Khoa Điềm 🌻 Cảm nhận Thơ Tình Cuối Mùa Thu Xuân Quỳnh Gửi tặng đến bạn đọc bài thơ Đất Nước thơ Nguyễn Khoa Điềm Đất nước – Thơ Nguyễn Khoa Điềm Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồiĐất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kểĐất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ănĐất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặcTóc mẹ thì bới sau đầuCha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặnCái kèo, cái cột thành tênHạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàngĐất Nước có từ ngày đó… Đất là nơi anh đến trườngNước là nơi em tắmĐất Nước là nơi ta hò hẹnĐất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầmĐất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”Thời gian đằng đẵngKhông gian mênh môngĐất Nước là nơi dân mình đoàn tụ Đất là nơi Chim vềNước là nơi Rồng ởLạc Long Quân và Âu CơĐẻ ra đồng bào ta trong bọc trứngNhững ai đã khuấtNhững ai bây giờYêu nhau và sinh con đẻ cáiGánh vác phần người đi trước để lạiDặn dò con cháu chuyện mai sauHằng năm ăn đâu làm đâuCũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ TổTrong anh và em hôm nayĐều có một phần Đất NướcKhi hai đứa cầm tayĐất Nước trong chúng mình hài hoà nồng thắmKhi chúng ta cầm tay mọi ngườiĐất nước vẹn tròn, to lớn Mai này con ta lớn lênCon sẽ mang đất nước đi xaĐến những tháng ngày mơ mộngEm ơi em Đất Nước là máu xương của mìnhPhải biết gắn bó san sẻPhải biết hoá thân cho dáng hình xứ sởLàm nên Đất Nước muôn đời… Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng PhuCặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống MáiGót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lạiChín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng VươngNhững con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳmNgười học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút, non cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnhNhững người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà ĐiểmVà ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãiChẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông chaÔi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấyNhững cuộc đời đã hoá núi sông ta… Em ơi emHãy nhìn rất xaVào bốn ngàn năm Đất NướcNăm tháng nào cũng người người lớp lớpCon gái, con trai bằng tuổi chúng taCần cù làm lụngKhi có giặc người con trai ra trậnNgười con gái trở về nuôi cái cùng conNgày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánhNhiều người đã trở thành anh hùngNhiều anh hùng cả anh và em đều nhớNhững em biết khôngCó biết bao người con gái, con traiTrong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và chếtGiản dị và bình tâmKhông ai nhớ mặt đặt tênNhưng họ đã làm ra Đất NướcHọ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồngHọ truyền lửa cho mỗi nhà từ hòn than qua con cúiHọ truyền giọng điệu mình cho con tập nóiHọ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dânHọ đắp đập be bờ cho người sau trông cây hái tráiCó ngoại xâm thì chống ngoại xâmCó nội thù thì vùng lên đánh bạiĐể Đất Nước này là Đất Nước Nhân dânĐất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoạiDạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lộiBiết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ dài lâuÔi những dòng sông bắt nước từ lâuMà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hátNgười đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thácGợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôiNgười dạy ta nghèo ăn cháo ăn rau Biết ăn ớt để đánh lừa cái lưỡiCái cuốc, con dao, đánh lừa cái tuổiChén rượu đánh lừa cơn mỏi, cơn đauCon nộm nang tre đánh lừa cái chếtĐánh lừa cái rét là ăn miếng trầuĐánh lừa thuồng luồng xăm mình xăm mặtĐánh lừa thằng giặc là chuyện Trạng QuỳnhNhưng lạ lùng thay, nhân dân thông minhKhông hề lừa ta dù ca dao, cổ tích Ta lớn lên bằng niềm tin rất thậtBiết bao nhiêu hành phúc có trên đờiDẫu phải khi cay đắng dập vùiRằng co Tấm cũng làm về hoàng hậuCây khế chua có đại bàng đến đậuChim ăn rồi trả ngon ngọt cho taĐất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoaHoa của đất, người trồng cây dựng cửaKhi ta đến gõ lên từng cánh cửaThì tin yêu ngay thẳng đón ta vàoTa nghẹn ngào, Đất Nước Việt Nam ơi!… Ta lớn lên khao khát những chân trờiNhững mảnh đất chân mình chưa bén đượcNhững biển khới chứa mặt trời đỏ rựcNhững ngàn sao trôi miết giữa màu xanhÔi có cách gì ta được ngắm những bình minhBuổi vũ trụ chớp bùng nên sự sốngVà ánh sáng trên chiếc xe vàng chuyển độngBỗng một ngày ấm áp kể ta ngheVề những con ngươi của thiên thể xa xôiMuốn bầu bạn với con người Trái đấtÔi phút đó ta vùng lên ngây ngấtMuốn ôm choàng hết tất cả trời mâyTrái tim tay nặng trĩu những mê saySẽ gieo xuống làm âm vang mặt đất… Nhưng em ơi, cái điều trông đợi nhấtVẫn những gì có thể có hôm nayTừ hôm nay, trên mảnh đất ta đâyTa nắm nó như sợi mây vững chãiRồi rút dần từ cánh rừng vĩ đạiCủa cuộc đời hằng nuôi dưỡng chúng taVà diệu kỳ thay! Ta bỗng loá bất ngờTa đã thấy cuộc đời vô hạnGiữa đất đai, nhân dân, bè bạnTa tìm ra ánh sáng của Con NgườiNhững Con Người làm sông núi sáng tươi… Những địa danh trôi từ thuở xa xôiTrôi bằng máu và trôi bằng nước mắtĐã đọng lại thành tên ngươi, tên đấtBao năm rồi suốt mặt pha, triền sôngNhưng không có con người nào đã trôi hết sâu nông Bằng những người dân miền Tây nghèo khổĐây không biển thì rừng làm biển cảMột biển xanh với cồn sóng ngút trờiHọ bám mình vào tấm rẫy nổi trôiRồi gục chết dưới màu xanh vĩnh viễnCuộc đời họ mênh mang bất địnhChỉ đó nghèo bám riết lấy màu daÔi mây trắng ngang đầu, gió dưới rừng xa Đất Nước ở đâu? Đâu là Đất Nước?Kờ-ruồng Kù tiệt!Tiếng suối hay tiếng chim?Tiếng người hay tiếng chiêng?Tiếng đá lăn, cây đổ?Thác gào hay đá nổ?Kờ-ruồng Kù tiệt!Kờ-ruồng Kù tiệt!Đất Nước! Đất Nước!Đất Nước trên miệng ta rồiTrong tim ta mangTrên chân ta bướcĐất Nước! Đất Nước!Cả núi rừng thét lên đồng loạt!Đó là năm dưới thời giặc PhápChúng hất hàng chục chòi Ta-ôi ra khỏi bản đồĐẩy họ vào những cánh rừng xanh không Tổ quốc Đoạn tiếp theo bài thơ Đất Nước – Thơ Nguyễn Khoa Điềm Chính lúc đóLửa đã cháy lên!Lửa ngàn đời từ mỗi bếp cháy lên!Đốt nhà! Ta đốt hết nhà!Địu con lên lưng vác giáo lên vaiĐánh trăm chiếc cồng xuyên thủng núiMắt người già quắc lên cho đàn trẻ theoTa đạp rừng nhằm phía Đông bươn tới!Ôi ta về nguồn! Về nguồn!Kờ-ruồng Kù tiệt!Kờ-ruồng Kù tiệt!Đất Nước! Đất Nước!Ôi ta về theo Đất NướcTa không chịu làm người dân không Đất Nước Không Việt NamBiển rừng gào lên như muốn níu chân taBiển rừng không cuốn ta vào vô định nữaTa làm con suối rừng biết tìm sông mà tớiTa làm con nai biết tìm lối mà vềMặt trời mọc, mặt trời chỉ hướngÔi lòng ta có mặt trời soi sángTa trở về Đất Nước Tổ tiên ơi!…Và hôm nayKhi bom thằng Mỹ tớiCắt ngang những nói nhọn nhà làngChôn những nhà mồ vào đất bụiTa đánh lên tiếng cồngTa gọi vang rừng vang úi Đất Nước!Ta đánh lên tiếng chiêng cho cả Bắc Nam cùng nghe được!Nghe tấm lòng người Tà-ôi, Pa-kô, Cà-tuThuỷ chung Đất NướcRồi ta quăng cồng dưới suốiRồi ta chủ chiêng dưới cây Ta điTrong âm vang yêu nướcTa đi với rựa và tênRựa ta mài vào gỗ thành nươngTên ta gài xuống đất thành bẫyThằng Mỹ vào thì xác mà để đấy!Thằng nguỵ vào thì xác nó đừng chôn!Cho cháu con ta, ai sau nữa, được nhìn!Ôi Đất Nước đầu mũi daoĐất Nước đầu mũi tênĐất Nước đầu tiếng chiêngĐất Nước là ngọn lửaĐất Nước tràn lên từng đỉnh núiĐất Nước thiêng liêng… Đêm nay ta lên hết mặt sông Hồng!Nước đánh động dưới chân ta rồiĐất NướcĐang gọi ta từng hồi trống thúcĐất Nước xoáy nhào tim taKý ứcĐất Nước muôn đời đang vặn mình, đang sôi… Chúng ta là người dân miền NamNhung tôi biết anh gốc gác họ Hoàng Kinh BắcCòn tôi họ Nguyễn tỉnh ĐôngHuyết thống ta trôi trên bán đảo âm thầmHôm nay bỗng réo sôi từng hồi từng trậnKhi cơn lũ đang lao qua châu thổ sông Hồng! Ta lên hết mặt đê sông Hồng!Dẫu chỉ bằng tâm tưởngỞ đâu đó ta không còn nhớ nữaSao tổ tiên ta cầm cuốc, cầm càyCầm giáo, cầm khiên và cất tiếng hát lưu đàyĐể xa châu thổ từ độ ấy… Ôi những gốc tre tổ tiên ta từng thấyVẫn còn nguyên trên bờ bãi sông HồngLúa lên xanh trên những cánh đồngCũng có tay cha ông in vào trong lúaSâu thẳm quá cho đến từng mái rạCũng có dáng một ngày cha ông khăn gói bước ra Ôi những gì Người đã ước mơThì bây giờ cũng thơm lá thơm hoaNên hôm nay chúng taPhải lên hết đê sông Hồng mà giữ lấy! Đất NướcPhải chặt tre, đóng cọc mà giữ lấy!Đất NướcPhải đan phên, đổ đất mà giữ lấy!Đất NướcPhải phá nhà, chặt cây vườn vác ra mà giữ lấy!Đất NướcPhải neo người xuống sông, chặn nước mà giữ lấy!Đất NướcĐất Nước không thể trôi được!Máu xương, mồ mả tổ tiên đã trôi điNhững dòng họ đã trôi điNhưng hôm nay không thể nào trôi được! Đất NướcĐang gầm lên trong sóng gió ngất trờiHàng chục triệu thước khối nước đang lao vào mặt đấtCuộc xáp trận của vật chất muốn đè vật chấtCủa thiên nhiên đè xuống con ngườiTa vươn mình gánh lấy đất đaiTa ném máu xương ta vào làm vật cảnTất cả ý chí và sinh mạngPhải được vai dựa vào vai, đùi gối lên đùiĐẩy con đê sông Hồng tiến lên phía trướcThắng giặc Mỹ hay thắng giặc nướcĐều nhất tề xung phong! Sơn Tinh đang nhìn ta lo lắng đăm đămCả nhân loại đang nhìn ta cổ vũCon cháu ta mai sau hối hả lật từng trang lịch sửNgợp trước con đê sông Hồng lên cao, lên cao…Chào 4000 năm! Con đê như một cánh tay caoCủa thế trận những người làm chủLàm chủ cuộc đời và lướt từng đỉnh lũBảo vệ miến Bắc, chi viện miền Nam! Mẹ Việt Nam ơi!Đêm nay con về gối đầu trên cánh tay của MẹÔi cánh tay rắn rỏi, dịu hiềnLấm láp bùn lầy nhưng ấm áp niềm tinĐó là hai cánh đê sông Hồng của MẹMẹ phả vào mặt con nồng nàn mùi sữaCủa những đồng xa nguyên vẹn như mùaCon đã đi xa từ thuở ấy đến giờNay bọn Mỹ còn cắt chia Đất NướcNhưng đêm đêm con trở về thân thuộcNgủ trên cánh tay Mẹ hiền từ cay đắng nuôi conTrong tháng năm chớp bể mưa nguồnRu con lớn và làm người thương Mẹ… Đã có một thờiAi muốn vào châu Mỹ La-tinhĐến trước vịnh Ca-ra-ipSẽ không cần dùng địa bànCứ nhìn những xác da đenTrôi bập bềnh trên biểnNhững xác da đen chỉ hướngĐưa anh vào “mảnh vườn sau” của chủ nghĩa thực dân Đã có một thờiAi muốn đến Việt NamCứ theo gót những đàn ngựa phương BắcHay chữ thập trên tàu buôn nước PhápCác bạn sẽ tìm ra Việt NamBởi vì ngày ấyNước chúng tôi chưa có trên bản đồ thế giớiNgôn ngữ loài người chưa biết hai chữ “Việt Nam”Và dẫu bạn đến đâyChỉ có những tên đô hộ phủ toàn quyềnĐứng ra tiếp bạnNhưng hôm nayBạn hãy đi theo những đoàn đi bộ tuần hànhMang những lá cờ sao vàngỞ Pa-ri, ở Mát-xcơ-va hay Xtốc-khômBạn sẽ đến được Việt Nam tôi đó Bởi vì Việt Nam hôm nayNằm giữa lòng thế giớiNằm trong tim nhân loạiNằm trên con đường dẫn ta tới giá trị Con Người…Bởi vì Việt Nam hôm nayLà Việt Nam chống MỹChúng tôi gánh trên vai hành trang nặng nề của thế kỷĐể bạn bình tâm bước vào ngưỡng cửa Tự do… Tiếp tục bài Thơ Đất Nước – Thơ Nguyễn Khoa Điềm Bạn đến đâyĐã có Bác HồVà Nhân dân tôi sẵn sàng đón bạnDẫu Người đi vắngBạn có thể đến nhà Người thăm một khóm hoaRồi cùng nhân dân tôi trò chuyệnNhân dân tôi đẩy tình yêu mếnĐã được Người dặn dò trước phút đi xa… Bạn hỏi vì sao cúng tôi yêu quý Bác HồBởi vì Người là Người đầu tiênVề với Đất Nước chúng tôiMang chủ nghĩa Mác-Lê ninChứa trong trái tim yêu nước nhấtKhi Người đặt tay lênHòn đất Việt Nam đầu biên giớiThì từ đóĐất không phải là đất nữaĐất là chiến hàoĐất là cạm bẫyĐất là hoa tráiNuôi chúng tôi, che chúng tôi cầm súng lên đường! Có Người, chúng tôi có lại Hùng VươngCó lại dáng búp sen nghìn năm của chùa Một CộtVà những búp sen miền Nam tận bùn lầy Đồng ThápCó Người, cũng đã thành thơCó Người, mỗi mũi tên đồng Cổ LoaKhông chịu vùi dưới đấtKhông nằm yên trong viện bảo tàngChúng bay lên xé gió thời gianMở hết đường bay qua thăng trầm lịch sử Để cắm vào đầu giặc Mỹ!Có Người, pho Bồ Tát nghìn tay nghìn mắtBiết toả hào quang từ hàng chục cánh tayCó Người, pho Bồ Tát triều Lý chỉ còn đầuVẫn nguyên vẹn trong lòng chúng tôi nhờ búi tóc thời vua Hùng để lạiVà pho Kim Cương trên đôi chân vững chãiDẫu mất đầu vẫn giữ một dáng đứng Việt NamĐấy, Đất Nước chúng tôi đổ vỡ biết bao lầnCả những pho từ bi cũng không ngoài hoạn nạnNhưng có Người, những cái mất đi phải trả về hình dángQuá khứ được nhìn từ đôi mắt Hôm Nay Và Hôm Nay từ đôi mắt Ngày MaiChúng tôi sống bằng Tương lai một nửaBằng tình yêu vô hạn những con ngườiNhư Hôm Nay nhìn Đất Nước cắt đôiChúng tôi đã thấy ngày hàn gắn… Bởi vì Người là người đầu tiênYêu miền Nam trong trái tim mìnhYêu tuổi trẻ miền Nam 25 nămChưa có được ngày hạnh phúc Mà Người dạy chúng tôiHãy bền gan đánh giặcDẫu phải chết cũng không khuất phục“Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do!” Chúng tôi là con cháu Bác HồCó nghĩa là chúng tôi giống BácNhững gì còn non nớtChúng tôi học tập để sống, chiến đấu như Người Bởi vì Người là đất nước của chúng tôiMỗi sợi tóc trắng của Người đều ghi ngày gian khổ nhấtCủa Đất Nước, những năm dài đánh giặcĐôi dép của Người mòn vẹt gótNgười đã đi những ngả đường Đất Nước hành quân Trái cà Người ănCũng là trái cà nuôi người anh hùng đầu tiên – Thánh GióngCây gậy Người cầmCũng có thể tìm trong trăm ngàn gậy vượt Trường SơnÝ chí của NgườiÝ chí toàn dân tộcLý tưởng của NgườiSự sống chúng tôi mang…Hồ Chí Minh – Việt NamBạn và tôi cùng gọiHồ Chí Minh – Việt Nam Em nghe không trái thị đã rơi xuống tay NgườiTrái không chỉ rơi vì sức hút đất đaiTrái rơi vì tay Người ao ướcKhi trái chạm vào tay Người và Người ấp ủThì lừng hương tay Người và Người ấp ủThì Lừng hương và cô Tấm bước raĐi trả thù và sống Tự do…Không rơi xuống bùn, ôi trái thị quê taĐể bùn lấm và thành bùn vạn kiếpRơi vào tay Người, đó là định luậtCủa đấu tranh và nhân nghĩa Việt Nam Tuổi trẻ ơi trong sương gió tháng nămTa đã lớn rồi, chín đầy hy vọngHãy ngã xuống tay Nhân dân, hỡi sắc vàng cảu nắngHỡi hương thơm của nồng mặn mồ hôi.. Hãy ngã vào tay Nhân dân, đừng vãi đừng rơiĐừng tự do, đừng hoài nghi nữaHãy yêu Nhân dân và nghe Người nhắn nhủHãy tìm sức mạnh mình trên cơ thể Nhân dânNhân dân đang đi lên đội ngũ trùng trùngThế vô tận của nghìn năm giết giặcLửa đã cháy hồng hào mặt đấtMùa chín tình yêu, mùa chín hận thù! Không bao giờ xương máu phải bơ vơÔi sông núi nghi ngàn dặm đấtCó nghe tiếng chúng con Xin có mặtNguyện làm người xung kích của quê hươngĐây tiếng hát chúng conTiếng hát xuống đường! 🌻 Ngoài Thơ Nguyễn Khoa Điềm 🌻 Xem thêm Phân Tích Tây Tiến Phong Cách Thơ Nguyễn Khoa Điềm Tìm hiểu về Phong Cách Thơ Nguyễn Khoa Điềm có gì đặc biệt nhé Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm thời kì chống Mỹ cứu nước là cảm hứng lớn về đất nước và nhân dân anh hùng. Sự thống nhất độc đáo của phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm nằm ở cảm hứng hiện thực thời đại, ở những chủ đề quen thuộc, ở phương diện thể hiện cái tôi trữ tình phong phú đa dạng, với lớp ngôn từ, hình ảnh cảm xúc ẩn sau bề mặt câu chữ một cảm quan lịch sử văn hoá sâu sắc độc đáo. Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm yêu nước không đơn giản chỉ là nhiệt tình hăng hái chiến đấu và căm thù giặc mạnh mẽ. Với Nguyễn Khoa Điềm tình yêu đất nước làm sống dậy trong trang thơ lịch sử bốn ngàn năm hào hùng của dân tộc với những chiến công dựng nước và giữ nước của cha ông. Đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự đồng hiện của những gì gần gũi nhất, thân thương nhất của mỗi con người Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và tương lai, trong thời gian và không gian, trong lịch sử và truyền thống văn hoá Tiếng thơ Nguyễn Khoa Điềm không chỉ nói lên những suy nghĩ cảm nhận của tuổi trẻ trong chiến tranh, về sự lạc quan hay cái nhìn nghiêm túc thành thật, thậm chí trần trụi về những mất mát… mà còn bộc lộ những suy nghĩ hiện thực sâu sắc hơn rất nhiều. Thơ Nguyễn Khoa Điềm thể hiện lòng yêu nước qua việc tranh luận về tuổi trẻ, về nhân sinh quan để dựng lại cả quá trình “tìm đường” và“nhận đường” của tuổi trẻ đô thị miền Nam về với con đường cách mạng của dân tộc, nhân dân. Tài năng và cá tính sáng tạo của Nguyễn Khoa Điềm còn bộc lộ trong những phương diện nghệ thuật đó là thi pháp biểu hiện mang phong cách riêng, từ giọng điệu trữ tình giàu chất chính luận, đến việc xây dựng chất liệu thơ giàu chất liệu hiện thực, chất liệu văn hoá và giàu tính liên tưởng. Từ việc sử dụng những tín hiệu thẩm mỹ vừa truyền thống vừa hiện đại đến việc sử dụng linh hoạt thể thơ tự do với những cung bậc khác nhau của cảm xúc với một vốn từ ngữ giàu có vừa dân dã vừa mang tính văn hoá thời đại. 🌻 Ngoài Thơ Nguyễn Khoa Điềm 🌻 Chia sẻ Bài Thơ Thuyền Và Biển Hay Thơ Nguyễn Khoa Điềm Tham khảo những áng Thơ Nguyễn Khoa Điềm hay và ấn tượng trong lòng người đọc Cánh đồng buổi chiều Có một nhà thơ đi mãi vào cánh đồng buổi chiềuLởm chởm gốc rạ sau mùa cấy gặtMùi thơm lúa khoai thân thuộcNói gì, hở tiếng reo cỏ mayMùa thu vừa trở lại? Nhà thơ cúi xuống tìm hạt mồ hôi bỏ quênTrên mặt đấtBao người đã mất, đang cònSống âm thầm sau rặng tre khuất lấpKhông một dấu vếtNhững mặt ruộng nứt nẻ. Chúng ta vẫn bưng bát cơm trắng mỗi ngàyThật đơn giản, hiển nhiên, như hơi thởKhông còn nhớ có bao giọt mồ hôi trên mặt ruộngBao nhiêu bùn, bao nhiêu khổ đauKhi mồ hôi trở nên quá rẻKẻ ranh ma trở nên quá giàu Đã lâu nhà thơ lại về với cánh đồng làngHít sâu hương thơm no ấmNhận ra trong mỗi khuôn mặt đen sạmNhững tháng ngày bỏ quên Bằng bước chân chậm rãiNhà thơ lặng lẽ nối gót người nông dân đi mãiMặc cho ngôi sao hôm xa ngái dẫn đườngThăm thẳm ngõ quê rơm rạTrái tim lăn tròn êm ả… Anh đợi – Thơ Nguyễn Khoa Điềm Đến sớm một ngàyVượt trước thôi đườngCao hơn thói thườngAnh đợi Đánh đổi một đờiCuối đất cùng trờiAnh đợi Anh tìm emTừ cõi hư vôĐến phiên chợ đờiÂm dương xanh thẳmThương nhớ bồi hồiAnh đợi Vứt hết sách vởHai tay trụi trầnNúi cao anh trèoSông sâu anh lộiAnh đi tìm emMây chiều bạc tócThương nhớ lao lungMột thời trận mạcMột thời cấy trồngAnh là hạt thócEm là cánh đồngGieo bao thương nhớVẫn còn mênh mông Còn chăng điều tốtTrong cuộc đời này?Còn bao nồng mặnEm dành đôi ta?Ngàn năm, trăm nămAnh mong, anh đợi. Một ngày xuôi tayĐường xa để lạiAnh còn ngoái lạiNhững lời hôm quaAnh đợi! Lời chào Ta đã đi qua những năm tháng không ngờVô tư quá để bây giờ xao xuyếnBèo lục bình mênh mang màu mực tímNét chữ thiếu thời trôi nhanh như dòng sông… Ta lớn lên bối rối một sắc hồngPhương cứ nở hoài hoà như đếm tuổiNhư chiều nay, một buổi chiều dữ dộiTa nhận ra mình đang lớn khôn… Biết ơn những cánh sẻ nâu đã bay đến cánh đồngRút những cọng rơm vàng về kết tổĐá dạy ta với cánh diều thơ nhỏBiết kéo về cả một sắc trời xanhBiết ơn mẹ vẫn tính cho con thêm một tuổi sinh thành “Tuổi của mụ” con nằm tròn bụng mẹĐể con quý yêu tháng ngày tuổi trẻBuổi mở mắt chào đời, phút nhắm mắt ra đi… Biết ơn trò chơi tuổi nhỏ mê ly“Chuyền chuyền một…” miệng, tay buông bắtNgôn ngữ lung linh, quả chuyền thoăn thoắtNên một đời tiếng Việt mãi ngân nga… Biết ơn dấu chân bấm mặt đường xaNhững dấu chân trần, bùn nặng vếtTa đi học quen dẫm vào không biếtDáng cuộc đời in mãi dáng ta đi… Biết ơn dòng sông dựng dáng kiếm uy nghiTrong tâm trí một nhà thơ khởi nghĩaCao Bá Quát ngã mình trên chiến địaTrăm năm rồi sông vẫn sáng màu gươm… Trăm năm rồi ta đếm bước sông HươngVẫn soi thấy niềm đau và nổi giậnKhuôn mặt trẻ bỗng già trên lớp sóngNgẩng đầu lên, ta thấy mặt quân thù! Cõi lặng – Thơ Nguyễn Khoa Điềm Cõi lặng. Anh soi thấy mặt mìnhVới nỗi buồn trong sạch Cõi lặng. Không tiếng động nào khácTiếng đập trái tim anh Người ơi, tôi yêu người tha thiếtTôi sống với người, chết vì người Cõi lặng. Tôi vượt qua ghềnh thácĐến những miền trong xanh… Đi bên mùa thu Bởi vì em mặc áo vàngTôi muốn em hãy đọc bài thơ Nga ấyĐã rung lên như lửa cháy,Một mùa thu chết tận xa xôiCho tôi sống bồi hồiTrên chân trời rung cảm khác. Và chuyến xeChật chội, gian nanVẫn là cơn gió thổi tôi qua bờ bãiVới nắng tinh khôi, óng ả, tươi vàng… Có lẽTrên những con đườngĐời tôi sẽ trôi quaMãi mãi tôi không còn lung linh màu nắng ấyMột chút mùa thu sách vởMột chút mùa thu qua cửa sổTrên cái gập gềnh bánh xe lăn đi. Và mọi nỗi xôn xao không còn lăn bánh nữaTôi ở lại trên chiếc lá đỏKhi nắng vàng trên áo em khuất xa Bây giờ lật lại trang thơTôi muốn đặt mình trên từng con chữĐể được sưởi dưới mắt em xa vắng vô bờ… Cỏ ngọt Đứng đấy tự bao giờ, bên dòng sông cũCon bò gặm cỏ Chậm rãiMột ít bóng đêm và ít hạt bình minhTừng miếng một,Nhai và thở. Không nghe tiếng người, tiếng xe cộ lại quaBụi bặm một ngày kiếm sốngNó nghe thấy vị ngọt từng cọng cỏ Đầy khao khátNó để lại trong làn sương mỏng ven sôngMùi bất chợt của cỏ dạiChút ẩm ướt của thời gian 🌻 Ngoài Thơ Nguyễn Khoa Điềm 🌻 Chia sẻ Bài Thơ Quê Hương Của Giang Nam Tiểu Sử Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm Chia sẻ thêm đến bạn Tiểu Sử Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm, những điều cần biết về nhà thơ Gia đình, Quê hương. Nguyễn Khoa Điềm sinh ngày 15 tháng 04 năm 1943 tại thôn Ưu Điềm xã Phong Hòa huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên – Huế. Quê hương Nguyễn Khoa Điềm – dải đất miền Trung cát trắng, nơi đầu sóng ngọn gió đã hứng chịu bao biến động của lịch sử, bao khắc nghiệt của thiên nhiên và bao tấn bom đạn của kẻ thù trong chiến tranh. Nguyễn Khoa Điềm được sinh ra trong một gia đình “Danh gia vọng tộc” có truyền thống yêu nước và hiếu học. Nguyễn Khoa Đăng là một ông quan nội giám có tài yên dân, được dân gian truyền tụng và ôn g cũng chính là ông tổ của dòng họ Nguyễn Khoa ở đất kinh kì mà Nguyễn Khoa Điềm là hậu duệ đời thứ tư. Cụ nội Nguyễn Khoa Điềm từng làm chức quan bố chánh, sau theo phong trào Cần vương rồi từ quan về nhà. Ông nội Nguyễn Khoa Điềm là một nhà nho có tinh thần yêu nước, từng được bầu vào Viện dân biểu Trung kì do cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Viện trưởng. Bà nội Nguyễn Khoa Điềm là Nữ sử Đạm Phương, cháu nội vua Minh Mạng. Là người hoàng tộc nhưng bà có tinh thần yêu nước tiến bộ, là tác giả của nhiều cuốn sách và bài báo bênh vực quyền lợi của phụ nữ và trẻ em lúc bấy giờ. Cha Nguyễn Khoa Điềm là Nguyễn Khoa Văn, tức Hải Triều, một chiến sĩ cách mạng, một nhà lí luận văn hoá mác-xít xuất sắc đã chiến đấu và hi sinh cho cách mạng đến hơi thở cuối cùng Sinh ra trong một gia đình văn hoá giàu lòng yêu nước, Nguyễn Khoa Điềm chắc chắn được thừa hưởng những phẩm chất ưu việt của dòng họ ở cả tinh thần yêu nước, cách mạng và truyền thống văn hoá. Nhưng đây chưa phải là những yếu tố quyết định làm nên tài năng và thành công. Chính sự trải nghiệm cuộc sống ở chiến trường, sự sẻ chia với nhân dân những gian nan vất vả, đau thương mất mát mở ra một hiện thực phong phú trước mắt người làm thơ. Sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Khoa Điềm đã không bắt đầu từ phòng văn mà nảy mầm kết trái ở chính nơi đầu sóng ngọn gió của cuộc chiến đấu. Sống hết mình với hiện thực, rung động tận đáy lòng với cuộc sống và phát huy những sức mạnh tiềm tàng của mình, Nguyễn Khoa Điềm đã lưu tên tuổi của mình vào nền thơ dân tộc. 🌻 Ngoài Thơ Nguyễn Khoa Điềm 🌻 Tham khảo Bài Thơ Sóng Xuân Quỳnh Thơ Nguyễn Khoa Điềm Có Sự Kết Hợp Giữa Tìm hiểu thêm Thơ Nguyễn Khoa Điềm Có Sự Kết Hợp Giữa những điều mới nào nhé Sự kết hợp giữa chất chính luận với chất trữ tình trong đoạn trích Đất Nước trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm Khẳng định ý nghĩa, giá trị của đoạn trích Đất Nước với sự kết hợp giữa chất chính luận và chất trữ tình, đoạn trích có tác động to lớn và sâu sắc đến nhận thức và tình cảm của tuổi trẻ các thành thị vùng tạm chiếm miền Nam. Giúp họ nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mĩ, hướng về nhân dân, đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình để đứng dậy xuống đường đấu tranh góp phần vào cuộc đấu tranh chung của toàn dân tộc. Trong tất cả thơ Nguyễn Khoa Điềm. Một bài thơ được xem là có thiên hướng chính luận khi nhà thơ muốn bộc lộ những quan niệm, tư tưởng chính trị – xã hội của mình và muốn chia sẻ, thuyết phục người đọc về tính đúng đắn của những quan niệm, tư tưởng đó. Trong đoạn trích Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm muốn chia sẻ quan niệm, tư tưởng của ông đất nước thân thương, lâu đời, bền vững và đáng tự hào này là của nhân dân; đồng thời cũng nhắc nhở bổn phận của mỗi người đối với nhân dân và đất nước. Tuy nhiên, thơ trước hết vẫn là trữ tình, là phát biểu cảm nhận, bộc lộ cảm xúc, theo đuổi suy tưởng. Vì vậy, trong đoạn trích Đất Nước, sự kết hợp giữa chính luận và trữ tình vừa là một yêu cầu vừa là một hệ quả tất yếu. Phân tích sự kết hợp giữa chất chính luận và chất trữ tình qua một vài đoạn thơ tiêu biểu trong đoạn trích Đất Nước trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm. Ví dụ ”Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng PhuCặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống MáiGót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lạiChín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳmNgười học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non NghiênCon cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnhNhững người dân nào đã góp tên ông Đốc, ông Trang, Bà Đen, Bà ĐiểmVà ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãiChẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông chaÔi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấyNhững cuộc đời đã hoá núi sông ta…” Rõ ràng đây là đoạn thơ thấm đẫm chất trữ tình. Nhà thơ bày tỏ sự trân trọng những cuộc đời, những con người đã hoá thân một cách cao đẹp vào hình hài đất nước. Yếu tố chính luận làm cho nội dung tư tưởng của đoạn trích thêm sâu sắc. Yếu tố trữ tình làm cho đoạn trích có sức lay động, truyền cảm, biến tư tưởng, quan niệm, nhận thức thành cảm hứng nghệ thuật. => Kết hợp hai yếu tố này thực sự không dễ, nhưng tác giả đoạn trích đã làm được cho dù sự kết hợp ấy không phải lúc nào cũng thật nhuần nhị, hài hoà. 🌻 Ngoài Thơ Nguyễn Khoa Điềm 🌻 Tham khảo Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm Còn Sống Không Một câu hỏi thường được các bạn học sinh thắc mắc Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm Còn Sống Không mỗi khi có đề bài phân tích về nhà thơ Giải đáp Năm 1996, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, Nguyễn Khoa Điềm bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Ông là Đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá X và từ tháng 11 năm 1996 là Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin. Năm 2001, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX, Nguyễn Khoa Điềm trở thành Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương 2001 – 2006. Hiện nay, ông đã nghỉ hưu và sống tại Thành phố Huế. 🌻 Ngoài Thơ Nguyễn Khoa Điềm 🌻 Tham khảo Thơ Thế Lữ Chọn Lọc
ĐỀ Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Đất Nước”Nguyễn Khoa Điềm“Trong anh và em hôm nay.......................................Làm nên Đất Nước muôn đời”* DÀN BÀI GỢI ÝI. MỞ BÀI- Nguyễn Khoa Điềm là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca thờikháng chiến chống Mĩ. Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tư, giàu hình ảnh vànhững liên tưởng phong phú sáng tạo. Đất Nước được trích trong đoạn trích trườngca “Mặt đường khát vọng” tiêu biểu cho vẻ đẹp của Nguyễn Khoa Đoạn trích thể hiện cách cảm nhận vừa mới mẻ vừa sâu sắc của nhà thơ NguyễnKhoa Điềm về Đất Nước, từ đó nêu lên trách nhiệm của mỗi người đối với THÂN BÀI-Dẫn dắt hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ-Giới thiệu nội dung của đoạn thơ trước đó1. Cảm nhận mới mẻ của nhà thơ về Đất Nước 9 câu đầu- Nhà thơ đã lựa chọn một cái nhìn hợp lí, đất nước có mặt trong mỗi con người“Trong anh và em hôm nayĐều có một phần Đất Nước”.Đất Nước không trừu tượng ở đâu xa xôi mà kết tinh, hoá thân ở ngay trong mỗimột con người, từ hình dáng, màu da giọng nói, cách ăn mặc cho đến những suynghĩ, tình cảm đều mang đậm màu sắc dân tộc. Nói cách khác, mỗi con người ViệtNam đều được thừa hưởng một phần vật chất và tinh thần của đất nước do cha ôngtruyền Nước còn là sự hài hoà giữa nhiều mối quan hệ cá nhân với cá nhân qua hìnhảnh “hai đứa cầm tay” và quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng qua hình ảnh “khichúng ta cầm tay mọi người”
Ngày đăng 24/09/2016, 0805 MỤC LỤC ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM - PHẦN MỞ ĐẦU Trang NGUYỄN THỊ NHUNG PHONG CÁCH THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM Lý chọn đề tài Lịch sử vấn đề 3 Phƣơng pháp nghiên cứu Đối tƣợng phạm vi nghiên cứu Nhiệm vụ nghiên cứu Đóng góp luận văn Kết cấu luận văn 10 Chuyên ngành Văn học Việt Nam Mã số 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Người hướng dẫn khoa học VŨ TUẤN ANH THÁI NGUYÊN – 2009 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Thơ Nguyễn Khoa Điềm – trình nhận đƣờng PHẦN NỘI DUNG Chương I THƠ CHỐNG MỸ VÀ SỰ XUẤT HIỆN PHONG CÁCH tuổi trẻ miền Nam 43 Cái trải nghiệm nhà thơ - chiến sĩ 48 Từ trữ tình sử thi thơ Nguyễn Khoa Điềm, THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM đến trải nghiệm hệ 48 Cái nhà thơ - chiến sĩ đời sống nội cảm 50 Phong cách nghệ thuật thơ 11 Khái niệm phong cách 11 Tình yêu chiến tranh Phong cách thời đại phong cách cá nhân 14 Tình đồng đội 54 15 Những suy ngẫm sống hoà bình 56 trẻ chống Mỹ 17 quan trƣớc gian nan sống Nền thơ chống Mỹ 17 Những xúc cảm trữ tình trƣớc vẻ đẹp thiên nhiên Nguyễn Khoa Điềm chặng đƣờng sáng tạo 19 đời Nghiên cứu phong cách nhà thơ Trầm tƣ, âu lo đầy trách nhiệm nhƣng không bi Nguyễn Khoa Điềm - Một phong cách thơ đặc sắc thơ Con ngƣời – Quê hƣơng – Gia đình 19 Những chặng đƣờng sáng tạo 22 TIỆN NGHỆ THUẬT 22 Giọng điệu phong cách Giọng luận - triết lý 24 Chương II TỪ CẢM HỨNG THỜI ĐẠI ĐẾN PHONG CÁCH CÁ NHÂN NGUYỄN KHOA ĐIỀM 64 Chương III Ngôi nhà có lửa ấm, Cõi lặng - Thơ viết sống hoà bình 56 PHONG CÁCH THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM QUA MỘT SỐ PHƢƠNG Sự đời Đất ngoại ô Mặt đường khát vọng chiến trƣờng Bình Trị Thiên 50 Cảm xúc lớn Nhân dân, Đất nƣớc 27 68 69 Giọng luận 69 Giọng triết lý 73 Giọng trữ tình 74 Giọng suy niệm - tự bạch, độc thoại 77 Giọng thơ hoài niệm khứ 77 Giọng thơ suy tƣ - chiêm nghiệm Cảm xúc Đất nƣớc nhìn từ góc độ lịch sử - văn hóa 28 Cảm xúc Đất nƣớc từ góc độ trải nghiệm cá nhân 38 Nguyễn Khoa Điềm - tiếng thơ đại diện tuổi trẻ miền Nam 41 Hình tƣợng Lửa, Máu 81 Âm hƣởng chung thơ tuổi trẻ miền Nam chống Mỹ 41 Hình tƣợng ngƣời Mẹ 86 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên đời Những hình tƣợng thơ biểu trƣng Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 79 80 Hình tƣợng thơ đặc thù mang nét riêng PHẦN MỞ ĐẦU phong cách Nguyễn Khoa Điềm 88 Vận dụng nhuần nhuyễn chất liệu văn hoá dân tộc 90 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Ảnh hƣởng thể loại sử thi trƣờng ca Mặt đường khát vọng Cuộc kháng chiến chống Mỹ nhân dân ta với chiến công oanh liệt 90 tới thắng lợi cuối Sự đời phát triển thơ chống Mỹ góp phần Chất liệu văn hóa dân gian thơ vào chiến đấu giải phóng miền Nam thống Tổ quốc Nguyễn Khoa Điềm 92 Ngôn ngữ giàu màu sắc địa phƣơng 94 Có lẽ chƣa lịch sử văn học Việt Nam, thơ ca lại đóng góp nhiều tài năng, tâm huyết với tác phẩm có sức sống với thời gian nhƣ thơ giai đoạn chống Mỹ Đặt thơ chống Mỹ lòng thời đại, khẳng định vần PHẦN KẾT LUẬN thơ tiếng gọi động viên, cổ vũ dân tộc vùng lên đánh giặc Chiến tranh qua, 97 đất nƣớc bƣớc vào thời kì hoà bình, thơ chống Mỹ trở thành đối tƣợng đầy hấp dẫn nhà nghiên cứu văn học Trong nhìn đa dạng nhiều chiều giới THƢ MỤC THAM KHẢO phê bình, có ý kiến cho thơ ca giai đoạn kháng chiến chống Mỹ chất thơ, 101 rung động tinh tế nội cảm mà nặng tuyên truyền cổ vũ Nhƣng ngƣợc lại nhiều công trình nghiên cứu lại khẳng định thành tựu sức sáng tạo thơ ca chống Mỹ Do có tính vấn đề nhƣ nên thơ chống Mỹ trở thành tƣợng văn học phong phú, độc đáo có nhiều sức hút giới phê bình, nghiên cứu độc giả yêu thơ Một nét bật thơ chống Mỹ xuất đội ngũ nhà thơ trẻ Chính họ làm nên sức bật sức sống cho thơ ca giai đoạn Trong chiến tranh nhiều tài thơ nảy nở nhƣ Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Lê Anh Xuân, Dƣơng Hƣơng Ly, Nguyễn Khoa Điềm… Họ cất lên tiếng nói đầy tự tin ý thức trách nhiệm nhiệt huyết cháy bỏng trái tim hệ - hệ tự nguyện nhập trải nghiệm qua thử thách chiến tranh Mỗi gƣơng mặt thơ trẻ mang cá tính, giọng điệu riêng làm nên phong cách nghệ thuật độc đáo Song song với việc nghiên cứu giai đoạn thơ, thơ, việc khảo sát sâu vào tác giả tiêu biểu hƣớng cần thiết xét cho cùng, giá trị thơ đƣợc kết tinh sức sáng tạo tài Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Trong số nhà thơ chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm viết không nhiều, nhƣng LỊCH SỬ VẤN ĐỀ từ số lƣợng ỏi lên tâm hồn thi sĩ thực với rung động Nguyễn Khoa Điềm nhà thơ có phong cách riêng với tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, với giới nội tâm nồng nàn sâu lắng Nguyễn Khoa Điềm nhà thơ đầy nhạy cảm Không thành công viết chiến tranh với đề tài mang có phong cách rõ nét có đóng góp quan trọng cho thành tựu thơ chống Mỹ tầm vóc thời đại lớn lao mà đạt đến độ chín suy tƣ cảm xúc bộn bề Thơ Nguyễn Khoa Điềm phác hoạ chiến trƣờng Bình Trị Thiên khói sống thƣờng ngày Ngay từ cho đời thơ đầu tiên, Nguyễn lửa năm chống Mỹ, tranh phong trào đấu tranh trị học Khoa Điềm gây đƣợc ý ngƣời đọc, với phê bình, nghiên sinh, sinh viên đô thị tạm chiếm miền Nam Mảng nội dung quan trọng cứu thơ ông Các ý kiến khẳng định ông nhà thơ có phong cách “Đó đƣợc thông qua tâm hồn thi sĩ nhạy cảm với ngòi bút tài Thơ thơ tuổi trẻ, thơ khát vọng chống Mỹ, thơ vùng đất ngoại ô, bạn bè Nguyễn Khoa Điềm kết tinh xúc cảm trí tuệ để thăng hoa thành thơ Đó đồng chí” Nhiều viết đánh giá thơ ông, thứ thơ giàu sức liên tƣởng, có tƣ không sản phẩm trí tuệ giàu có, tƣ sắc sảo mà sản sáng tạo riêng phong phú cách thể phẩm lòng, trái tim nên có sức lay động tận đáy sâu tâm hồn ngƣời đọc Năm 1972, Nguyễn Khoa Điềm trình làng thơ Việt Nam tập Đất ngoại ô Sự xuất tập thơ đƣợc độc giả đón nhận hào hứng khẳng định Nguyễn Khoa Điềm không nhà thơ tiêu biểu thơ chống Mỹ thành công bƣớc đầu thơ ông Ngay sau nhà phê bình Hà Minh Đức có Sau năm 1975 ông tiếp tục sáng tác thơ ông để lại ấn tƣợng sâu sắc giới thiệu Đất ngoại ô Nguyễn Khoa Điềm Bài viết "sức hấp dẫn, tiếng thơ đầy trách nhiệm trƣớc đất nƣớc, sống, phản ánh rõ lôi thơ Nguyễn Khoa Điềm, hồn thơ trẻ trung nồng cháy lý bƣớc chuyển biến tƣ thơ ông tƣởng" nhận điểm mạnh thơ ông "sự liên tƣởng đƣợc triển khai Nghiên cứu phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm qua chặng đƣờng sáng tác - khảo sát thơ ông thời kì kháng chiến chống Mỹ thời kì vốn sống thực tế, vốn văn hóa, qua mạch tình cảm đƣợc dẫn dắt từ lòng hòa bình, nhận đặc điểm phong cách, dấu hiệu đặc trƣng Trƣờng ca Mặt đường khát vọng mắt bạn đọc năm 1974 đem lại tiếng thời kì sáng tác, để thấy rõ ổn định biến đổi tƣ vang cho tên tuổi Nguyễn Khoa Điềm Năm 1975 Nguyễn Văn Long có viết nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm phong cách thơ đặc sắc quán Nguyễn Khoa Điềm với Mặt đường khát vọng Trong viết ông sâu vào nội Qua góp phần làm rõ chân dung sáng tạo cuả thơ Nguyễn Khoa dung tập thơ, phân tích cụ thể đƣờng theo cách mạng tuổi trẻ miền Điềm nhƣ tìm hiểu thơ ca Việt Nam thời kì hậu chiến giai đoạn đổi Nam Tác giả viết cho “chƣơng Đất nước làm điểm tựa cảm xúc cho toàn Nhiều tác phẩm Nguyễn Khoa Điềm đƣợc chọn giảng chƣơng trình văn Trung học sở Trung học phổ thông Nguyễn Khoa Điềm đóng góp bài” Cấu trúc tập thơ tìm tòi sáng tạo Nguyễn Khoa Điềm cách thể vần thơ hay đề tài Đất nƣớc văn học kỉ XX Vì thế, đề tài Năm 1976 Tôn Phƣơng Lan khẳng định tiềm nhà thơ trẻ qua góp thêm nguồn tƣ liệu cho việc giảng dạy học tập tác phẩm giới thiệu Nguyễn Khoa Điềm nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng Bài viết có nhìn Nguyễn Khoa Điềm nhà trƣờng phổ thông khái quát bao trùm Đất ngoại ô Mặt đường khát vọng để nhận riêng Nguyễn Khoa Điềm gƣơng mặt khác Đó cảm nhận riêng nhà Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên thơ Huế với “cách nhìn riêng qua phong cách mình, qua lòng vốn gắn vọng đến nhà có lửa ấm khẳng định thống phong cách bó với Huế từ buổi ấu thơ” Đó liên tƣởng độc đáo…Những nét riêng thơ Nguyễn Khoa Điềm trƣớc sau chiến tranh Ông cho độc đáo tập định hình phong cách nhà thơ Tôn Phƣơng Lan khẳng định “Một phong cách thơ Ngôi nhà có lửa ấm tƣ hƣớng nội, giọng nói mẻ, không hoa Nguyễn Khoa Điềm rõ Bạn đọc ghi nhận anh cách suy nghĩ diễn đạt mỹ, không thiên cảm xúc màu hồng Với bút pháp lấy tình nội tâm làm có âm hƣởng riêng” nền, thơ thâm nhập vào bề sâu, tìm tòi đƣợc tiềm ẩn vật Tập hợp Năm 1979, Mai Quốc Liên với giới thiệu Nguyễn Khoa Điềm những điều mẻ “Ngôi nhà có lửa ấm ghi nhận hƣớng cảm xúc thơ từ chiến trường Bình Trị Thiên tiếp tục làm rõ thêm đƣờng nét chân dung điềm đạm, sâu lắng, tách lớp vỏ vật để tìm lõi bên trong, khơi gợi từ thơ Nguyễn Khoa Điềm Bài viết cho rằng "Nguyễn Khoa Điềm không bắt đầu thơ triết lí đạo đức nhân sinh” từ sách vở, từ phòng văn mà từ thực sống chiến đấu nhân dân, đất nƣớc" Trong viết "Ngôi nhà tâm hồn Nguyễn Khoa Điềm có lửa ấm", Hoàng Thu Thuỷ nhận xét tranh tâm hồn Nguyễn Khoa Điềm sau chiến tranh Năm 1985, Nguyễn Xuân Nam tìm hiểu phong cách Nguyễn Khoa Điềm đƣợc chiếu sáng lửa hồng niềm tin trách nhiệm Bài viết ý đến Mặt đường khát vọng qua "Mặt đƣờng khát vọng Nguyễn Khoa quan niệm thơ Nguyễn Khoa Điềm sau chiến tranh "Anh cho rằng, nhƣợc Điềm" Một lần Nguyễn Xuân Nam nhấn mạnh điểm bật Nguyễn Khoa điểm thơ văn chiến tranh suy nghĩ riêng tâm tƣ riêng ngƣời Điềm "không đặc sắc tạo hình, màu sắc nhƣng có sức liên tƣởng mạnh" không phong phú đa dạng Chỉ có âm hƣởng chung chiến đấu; ƣớc "anh có đƣợc nhìn vừa phân tích vừa khái quát cần thiết cho thơ" mơ, dằn vặt lo âu đau thƣơng mát Có lẽ đến lúc phải thay đổi Võ Văn Trực lại tìm cho hƣớng việc cảm thụ thơ cách nhìn chiến tranh, văn học chiến tranh" Với quan niệm Ngôi nhà có Nguyễn Khoa Điềm Ông phác họa chân dung nhà thơ việc tìm hiểu ảnh lửa ấm đạt tới cảm xúc dồn nén vùng sâu thẳm tâm hồn hƣởng truyền thống văn hoá Huế đến ngƣời thơ Nguyễn Khoa Điềm, giàu tính thuyết phục chắt lọc chất thơ từ điều đỗi đời thƣờng đơn viết có tựa đề "Gương mặt quê hương - Gương mặt nhà thơ" Theo Võ Văn sơ, bình dị Trực, "hầu hết đề tài thơ anh đƣợc rút từ mảnh đất Huế, ngoại ô Huế Hoàng Thu Thuỷ ngƣời ý tìm hiểu thi pháp thơ Nguyễn Khoa Điềm ngoại ô mở rộng chiến trƣờng Bình Trị Thiên" "lịch sử Huế, văn hóa Dù chƣa phân tích kĩ nhƣng viết có phát tinh tế xác Huế, thở hàng ngày sống Cố đô thấm vào máu thịt cảm xúc Huế nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm "Nắm vững đặc trƣng thơ ca, bảo đảm chan chứa thơ anh" Thơ Nguyễn Khoa Điềm không "ngổn ngang" tên đất tên cho "tƣ thơ đông đặc nhảy vọt, lựa chọn từ ngữ, hình ảnh hàm súc, triệt để ngƣời xứ Huế, không "bề bộn" phong tục tập quán Huế nhƣng tâm hồn Huế dịu khai thác âm vang khoảng cách thơ" Cuối viết Hoàng Thu Thuỷ dàng phía sau dòng thơ" Chính chất Huế làm nên phong cách lĩnh thơ nêu lên đặc điểm thi pháp biểu Nguyễn Khoa Điềm "Đó Nguyễn Khoa Điềm có lẽ vận động từ gân guốc, mạnh khoẻ cách điềm tĩnh đến độ sâu sắc đến Sau thời gian dài, đến năm 1986 Nguyễn Khoa Điềm cho đời tập thơ Ngôi nhà có lửa ấm Tập thơ đoạt giải thƣởng hội nhà văn Việt Nam mức tĩnh tại, chạm vào phần sâu kín tâm hồn ngƣời, làm bật lên hiệu ứng thẩm mỹ phong phú"[5,18] Nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Anh Nguyễn Khoa Điềm từ Mặt đường khát Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10 Vũ Quần Phƣơng thể quan điểm thơ Nguyễn Khoa ngƣời giới phê bình giáo dục viết phân tích phát vẻ đẹp Điềm qua "Ngôi nhà có lửa ấm - Nguyễn Khoa Điềm" Tác giả viết nội dung tƣ tƣởng nghệ thuật thơ Những viết đƣợc đăng rải rác bộc lộ thái độ trân trọng trƣớc quan niệm Nguyễn Khoa Điềm "muốn tìm báo văn gần đƣợc tập hợp lại "Viễn Phương - Thanh chất thơ tiềm ẩn thƣờng ngày" "quan tâm đến cảm nhận lòng Hải - Nguyễn Khoa Điềm"Tủ sách văn học nhà trƣờng mình" Theo Vũ Quần Phƣơng, làm đƣợc nhƣ Nguyễn Khoa Điềm "có Từ Đất ngoại ô, từ Mặt đường khát vọng mang không khí hào sảng thời nhạy cảm lịch lãm sâu sắc" Ông khái quát đƣợc đặc điểm nội dung nghệ đại, mang dƣ vị ngào tâm hồn sinh viên trí thức trẻ, Nguyễn Khoa Điềm thuật Ngôi nhà có lửa ấm muốn dùng đạm để vẽ nồng, không cao trở Ngôi nhà có lửa ấm với điều bình thƣờng, với buồn vui giọng lâm ly mà giọng nói thường để chấm phá khêu gợi, tiết kiệm chữ sống Và mạch tƣ hƣớng nội, tập thơ Cõi lặng đời năm 2007 nghĩa để tạo nên câu thơ cô đọng dồn nén cảm xúc, đạt đến độ hàm súc với nhiều ý kiến đánh giá khẳng định giá trị Nguyễn Sĩ Đại viết [45] Cõi lặng nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cho rằng “Một số vươn tới độ Năm 2000, Chu Văn Sơn phê bình thi phẩm Đất nước Nguyễn lớn mang tính phổ quát Dù hoàn cảnh tâm hồn thi sĩ anh Khoa Điềm khẳng định tƣ thơ Nguyễn Khoa Điềm tƣ trữ tình triết hài hoà nồng thắm đất nước theo cách riêng mình, tức nơi chân tơ kẽ luận "Nét chủ đạo tƣ triết luận trữ tình đào sâu vào chất tóc, tế bào, thở hàng ngày Tập thơ mang đậm chiêm vật dƣới dạng biểu tƣợng thi ca sống động Tƣ chuyển động dựa nghiệm sống triết lí nhân sinh sự” Cõi lặng tập thơ làm phong mạch lôgíc biện chứng với mối liên hệ bất ngờ kì thú" Sự hoà hợp nhuần phú thêm tiếng thơ Việt Nam đại, tập thơ hoàn thiện chân dung Nguyễn nhuyễn hai yếu tố triết luận trữ tình góp phần định hình nên phong cách thơ Khoa Điềm, làm cho ông gần gũi chúng ta, với sống vĩnh cửu Nguyễn Khoa Điềm Các phê bình nghiên cứu, dù có cách nói, cách viết khác Hoài Anh có viết báo Văn nghệ ngày 25 tháng năm 2002 song đếu có gặp gỡ điểm chung khẳng định đặc sắc thơ Nguyễn Khoa Điềm với chủ đề thơ sóng đôi Đất khát vọng Với am hiểu sâu Nguyễn Khoa Điềm Đó tiếng thơ tuổi trẻ viết Đất ngoại ô với sắc văn hoá Huế, tác giả viết thâu tóm đƣợc "thần" "hồn", cốt tuỷ ngƣời mẹ, ngƣời em, bạn bè đồng chí năm tháng ác liệt khói tinh tuý cuả thơ Nguyễn Khoa Điềm lửa chiến trƣờng Đó tiếng thơ giàu chất suy tƣởng, ấm áp tình cảm Và Hoài Anh ngƣời tìm hiểu chất nhạc thơ Nguyễn Khoa nét riêng phong cách Nguyễn Khoa Điềm nhà thơ triết lí dân Điềm "Đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm liên tƣởng đến khúc đàn tranh gian, nhà thơ mà giọng Huế, chất Huế ngấm sâu vào câu, chữ Dù nhạc sĩ Huế" Theo tác giả, thơ Nguyễn Khoa Điềm niềm vui "khoẻ khoắn hoàn cảnh nào, Nguyễn Khoa Điềm thể hồn thơ sắc sảo, giàu tri tƣơi lành điệu Nam Xuân", nỗi buồn "nhẹ nhàng sâu lắng điệu Nam thức văn hoá với suy tƣ đầy trách nhiệm trƣớc lí tƣởng đƣờng mà Bình" có đoạn "đảo phách", "chuyển điệu" Đảo Ngũ Cung chọn Nguyễn Khoa Điềm sáng tác không nhiều nhƣng ông có hai tác phẩm đƣợc Có thể nói thơ Nguyễn Khoa Điềm đƣợc giới nghiên cứu phê bình độc chọn giảng chƣơng trình Trung học phổ thông, Khúc hát ru em bé giả ý nhiều Mặc dù có nhiều viết đề cập đến vấn đề lớn thơ ông, lớn lưng mẹ Đất nước - trích chƣơng V Mặt đường khát vọng Rất nhiều song phần lớn giới thiệu tác giả, giới thiệu tập Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11 12 thơ chƣa phải công trình nghiên cứu Nguyễn Khoa Điềm nhƣ tác gia, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU nhằm khảo sát toàn diện thơ Nguyễn Khoa Điềm Trên sở tiếp thu viết -Nhìn lại toàn sáng tác Nguyễn Khoa Điềm nhƣ trình vận quý báu có Nguyễn Khoa Điềm, mạnh dạn bƣớc đầu tìm hiểu động tƣ nghệ thuật thơ, song song với chặng đƣờng lịch sử đất phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm nƣớc -Trên sở khảo sát tập thơ để tìm hay, đẹp nét đặc PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU sắc nội dung nhƣ nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm, luận văn tập Phƣơng pháp phân tích tác giả, tác phẩm trung làm rõ phong cách nhà thơ Phân tích, chứng minh, thẩm bình để thấy rõ cảm hứng chủ đạo làm bật -Để thực nhiệm vụ nêu, sở việc nhìn nhận lại số vấn nét độc đáo thơ Nguyễn Khoa Điềm đề lí luận phong cách tác giả, luận văn vào tìm hiểu ảnh hƣởng quê Phƣơng pháp tiếp cận phong cách tác giả hƣơng, gia đình, thời đại đến nghiệp sáng tác Nguyễn Khoa Điềm Đồng Việc nghiên cứu phong cách tác giả làm bật độc đáo giới thời, phân tích văn thơ, so sánh với nhà thơ khác thời để làm bật nghệ thuật thơ, nên đòi hỏi phải có phƣơng pháp tiếp cận phong cách tác giả chân dung tinh thần thơ Nguyễn Khoa Điềm khảo sát cấp Phƣơng pháp so sánh độ nghệ thuật khác nhƣ giọng điệu hình tƣợng, ngôn ngữ Đặt tác giả tƣơng quan với nhà thơ khác, để thấy rõ yếu tố làm nên nét đặc trƣng riêng sáng tác Nguyễn Khoa Điềm ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU cận với mục đích làm rõ nét độc đáo, đóng góp riêng phong Đối tƣợng nghiên cứu cách thơ Nguyễn Khoa Điềm ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN Có nhiều cách tiếp cận thơ Nguyễn Khoa Điềm Chúng chọn hƣớng tiếp Đề tài tập trung nghiên cứu Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm Qua đó, góp phần đánh giá cách khoa học vị trí Nguyễn Khoa Điềm Phạm vi nghiên cứu thơ chống Mỹ Tập trung khảo sát trình sáng tác Nguyễn Khoa Điềm qua tập thơ xuất bản Tìm hiểu phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm hƣớng có nhiều triển vọng việc làm sáng tỏ tiếng nói hệ cá nhân nhà thơ, làm rõ phong cách thơ trẻ chống Mỹ, từ có nhìn thấu đáo, toàn cảnh thơ đại * Đất ngoại ô - 1972 * Mặt đường khát vọng - 1974 * Đất khát vọng - 1984 * Ngôi nhà có lửa ấm - 1986 * Cõi lặng - 2007 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14 KẾT CẤU LUẬN VĂN PHẦN NỘI DUNG Chương I Thơ chống Mỹ xuất phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm Chương I Chương II Từ cảm hứng thời đại đến phong cách cá nhân Nguyễn Khoa THƠ CHỐNG MỸ VÀ SỰ XUẤT HIỆN PHONG Điềm Chương III Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm qua số phƣơng tiện nghệ thuật CÁCH THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM Thơ Nguyễn Khoa Điềm dù độc đáo nhƣng không nằm dòng chảy thơ ca kỉ Đây thời kì mà yêu cầu chung lịch sử, thơ ca tự giác hƣớng đến khám phá giá trị tinh thần thời đại dân tộc Vì vậy, nghiên cứu phong cách Nguyễn Khoa Điềm tách rời thành tựu thơ chống Mỹ Trong chƣơng này, trƣớc hết làm sáng tỏ nhận thức khái niệm phong cách nhƣ khái niệm định hƣớng, từ tìm hiểu khái quát thơ chống Mỹ nói chung thơ Nguyễn Khoa Điềm nói riêng cách nghệ thuật thơ Khái niệm phong cách Phong cách thuật ngữ không dùng lĩnh vực văn học nghệ thuật, mà đƣợc dùng nhiều ngành khoa học đời sống xã hội Trong sáng tác nghiên cứu văn học, thuật ngữ phong cách đƣợc sử dụng rộng rãi ngày có ý thức Xung quanh thuật ngữ này, lâu có nhiều định nghĩa, quan niệm phong phú đa dạng Ở phƣơng Tây từ thời cổ đại với đại biểu xuất sắc nhƣ Platon, Aristote, khái niệm phong cách đƣợc nghiên cứu vận dụng Bƣớc sang kỉ XIX đặc biệt kỉ XX, khái niệm phong cách ngày đƣợc quan tâm sâu sắc Ở Liên xô, viện sỹ MB Khrapchenko “Cá tính sáng tạo nhà văn phát triển văn học” thống kê gần 20 cách hiểu khác phong cách [121,129,152] Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16 Ở nƣớc ta muộn màng nhƣng năm gần nhà lí luận, Các nhà nghiên cứu lí luận nƣớc ta bỏ nhiều công sức nghiên cứu nội nghiên cứu văn học dành nhiều công sức để tìm hiểu vấn đề phong cách, từ hàm thuật ngữ phong cách Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học sở thừa nhận sách công cụ nhƣ “Từ điển văn học” Đỗ Đức Hiểu chủ biên; “Từ điển hai phạm trù phong cách ngôn ngữ phong cách nghệ thuật định nghĩa “Phong thuật ngữ văn học” Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên; “150 cách nghệ thuật phạm trù thẩm mỹ chịu thống tương đối ổn định thuật ngữ văn học” - Lại Nguyên Ân chủ biên; “Lí luận văn học” Phƣơng Lựu, hệ thống hình tượng, phương tiện biểu nghệ thuật, nói lên nhìn độc La Khắc Hoà, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà; Dẫn luận phong đáo sáng tác nhà văn tác phẩm riêng lẻ, trào lưu văn cách học Nguyễn Thái Hoà Dẫn luận thi pháp học Trần Đình Sử… đến học hay văn học dân tộc” [255] "Đó riêng tạo nên thống lặp lại biểu công trình sâu nghiên cứu phong cách tác giả cụ thể Thơ vấn đề tập trung cách cảm nhận độc đáo giới hệ thống bút pháp nghệ thơ Việt Nam đại Hà Minh Đức[31]; Tác phẩm chân dung Phan Cự thuật phù hợp với cách cảm nhận ấy" Đệ; Nhà văn tư tưởng phong cách Nguyễn Đăng Mạnh; Văn học Việt Nam Thống quan điểm đó, Phƣơng Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, La thời đại Nguyễn Văn Long; Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Khắc Hoà, Lí luận văn học định nghĩa “Phong cách chỗ độc đáo Châu Tôn Phƣơng Lan… tư tưởng nghệ thuật, có phẩm chất thẩm mỹ thể sáng tác Buffon cho rằng “Phong cách người” nhà văn thƣờng có tạng riêng nhà văn ưu tú” Quả thật tính độc đáo yếu tố định tạo phong cách nghệ thuật Viện sỹ Likhatsep cuốn Thi pháp văn học Nga định nghĩa “Phong cách Nhìn chung nhà nghiên cứu lí luận nghiên cứu văn học nhấn hệ thống hình thức nội dung định, nguyên tắc thẩm mỹ để cấu trúc mạnh cá tính sáng tạo độc đáo mang tính thẩm mỹ nhà văn, cụ thể hoá yếu toàn nội dung hình thức” Tác giả đặc biệt nhấn mạnh kết hợp hài hoà tố tạo phong cách nghệ thuật tác giả Các nhà nghiên cứu thống nhà văn hai yếu tố nội dung hình thức tác phẩm nghệ thuật Trong đó, V muốn có phong cách riêng trƣớc hết phải có tƣ tƣởng độc đáo, có cách cảm nhận Đneprop lại cho phong cách đƣợc coi nhƣ hình thức toàn vẹn có tính nội giới độc đáo, có cảm hứng độc đáo, có hệ thống phƣơng thức riêng độc đáo, lẽ dĩ dung Ông phát biểu “Phong cách mối liên hệ hình thức, mối liên hệ nhiên phải “tính độc đáo chân chính” Hêghen bộc lộ thống nội dung nghệ thuật” Qua nhiều ý kiến phong cách nhà văn, rút lại nét Xung quanh khái niệm phong cách có quan điểm khác phong cách Phong cách biểu độc đáo tài sáng tạo nghệ nhƣng nhận hai luồng ý kiến bản nhấn mạnh thống thuật, có tính thống tương đối ổn định, “được lặp lặp lại” nhiều yếu tố nội dung yếu tố tạo hình thức tác phẩm; cho tác phẩm nhà văn, thể nhìn chiếm lĩnh nghệ thuật độc đáo phong cách đƣợc coi nhƣ hình thức toàn vẹn có tính nội dung Mặc dù tách bạch nhà văn giới người nhƣ nhƣng nhận thống nhất, tác giả quan Nhƣ vậy, để khẳng định phong cách tác giả đặc điểm bật tâm đặc biệt đến hai yếu tố bộc lộ tài độc đáo ngƣời nghệ sĩ - nội dung nội dung hình thức tác phẩm văn học, tạo nên tính độc đáo giá trị hình thức nghệ thuật tác phẩm văn chƣơng nhà văn, tƣợng văn học Theo chúng tôi, biểu độc đáo giá trị thể tài sáng tạo ấy, đƣợc chi phối từ tƣ tƣởng nghệ thuật Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18 tác giả Tƣ tƣởng nghệ thuật lại đƣợc biểu cụ thể cảm hứng sáng tác, tồn thiếu chung, thiếu phong cách khuynh hướng Phong giới hình tƣợng, giọng điệu ngôn ngữ , cảm hứng thực thời đại cách bắt nguồn từ chung” Đành phong cách thời đại có ảnh yếu tố hàng đầu chiếm vị trí quan trọng Nhà văn Nguyễn Tuân khẳng hƣởng trực tiếp tới phong cách cá nhân, nhƣng đề cao cách tuyệt định “Mỗi người viết có vision nhỡn quan riêng Nó đẻ phong cách” đối, nhƣ vô hình làm giảm ý nghĩa phong cách cá nhân Phong cách Phong cách thời đại phong cách cá nhân thời đại xoá nhoà sắc riêng phong cách cá nhân Phong cách cá Xung quanh khái niệm phong cách tác giả, vấn đề đặt phong cách cá nhân có quan hệ với phong cách thời đại nhƣ nào? Giữa phong cách thi pháp liên quan với sao? nhân riêng xác lập vị góp phần tạo nên chung phong cách thời đại Phong cách thời đại có ảnh hƣởng, chi phối phong cách cá nhân, tạo Mỗi thời đại có đặc điểm riêng, in dấu rõ đặc trƣng văn hoá xã hội tinh tảng tinh thần, đặc trƣng thẩm mỹ có sức hút lớn cá tính sáng tạo thần thời đại Văn học phản ánh tinh thần thời đại, mang phong Phong cách thời đại không hình thành từ khái niệm trừu tƣợng mà đƣợc gắn kết cách chung thời đại, gắn liền với truyền thống văn chƣơng văn từ phong cách cá nhân Chính phong cách cá nhân góp phần làm nên phong học Văn học trung đại nồng nàn lòng yêu nƣớc tinh thần chiến cách thời đại, làm giàu cho phong cách thời đại Phong cách cá nhân không thắng nhân dân ta đấu tranh chống ngoại xâm Đó kết tinh ý chí tiếp nhận nguồn sáng, ràng buộc phong cách thời đại mà phá bỏ thời đại Hoặc văn học đại dễ nhận phong cách ràng buộc để tìm đến mẻ, riêng, độc đáo chung thơ chống Pháp, thể gắn bó với sống kháng chiến niềm vui đời sống kháng chiến Ngoài mối liên hệ phong cách thời đại phong cách cá nhân, phong cách học thi pháp học có mối quan hệ qua lại Có trƣờng phái Đến thơ thời kì kháng chiến chống Mỹ, toàn tinh thần thời đại chủ cho phong cách thi pháp thuộc phạm trù, chúng tồn tác nghĩa yêu nƣớc chủ nghĩa anh hùng cách mạng Tính trữ tình - sử thi phong phẩm nghệ thuật ngôn từ nhƣ hiển nhiên Lại có trƣờng phái tuyệt đối hoá cách bật thơ chống Mỹ Dƣờng nhƣ nhà thơ thời kì thể hai khái niệm cách cực đoan cho rằng, phong cách thi pháp không tính thời đại ấy Tố Hữu, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, có quan hệ, ràng buộc với Thực phong cách thi pháp hai phạm trù Thanh Thảo, Nguyễn Đức Mậu…là phong cách cá nhân tiêu biểu làm nên khoa học có nội hàm riêng phong cách thời đại Tuy vậy, theo Khrapchenko, phong cách học thi pháp học có tính “độc Giữa phong cách thời đại phong cách cá nhân có mối liên hệ qua lại, ràng lập tƣơng đối”, có “liên hệ động” Vì chúng có quan hệ mật thiết với buộc lẫn Phong cách thời đại chung, tạo nên gần gũi nhau Nghiên cứu phong cách không nghiên cứu yếu tố thuộc phong cách cá nhân thời đại Quan tâm đến mối quan hệ này, A phạm trù thi pháp ngƣợc lại, thi pháp sở khoa học, chứng đầy sức Xôkôlôv viết “Hình thức chủ yếu thống phong cách khuynh hướng thuyết phục làm nên phong cách tác giả nghệ thuật - phạm trù trình nghệ thuật Phong cách khuynh hướng Nghiên cứu phong cách nhà thơ tính cộng đồng đặc điểm phong cách khiến cho sáng tác Nghiên cứu phong cách nhà thơ phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm nói nghệ sĩ thuộc khuynh hướng định gần gũi nhau… Phong cách riêng lẻ riêng, luận văn ý đến cảm hứng thời đại, thời kì chống Mỹ cứu nƣớc Đó cảm Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19 20 ảnh bò hồn nhiên gặm cỏ chiều Hƣơng Giang dựng nên tranh vọng Nguyễn Khoa Điềm thể điều tâm huyết đất nƣớc nhƣng quê hƣơng êm ả bình hình thức lời tâm tình đôi trai gái Khi lứa đôi bên thƣờng tâm Là ngƣời có tƣ chất thông minh, lại có vốn sống phong phú, Nguyễn Khoa Điềm có khả nắm bắt thần việc Ông có phát điều riêng tƣ thầm kín nhƣng chàng trai – nhân vật trữ tình Nguyễn Khoa Điềm nói với ngƣời yêu đất nƣớc với giọng thƣơng yêu tha thiết khái quát sâu sắc dân tộc, thời đại, sống ngƣời Dƣờng nhƣ -Đất nơi anh đến trƣờng triết lí nhân sinh trở thành đặc trƣng phong cách thơ Nguyễn Nƣớc nơi em tắm Khoa Điềm Từ quan sát , nhà thơ tƣ để tìm quy luật khách -Em em / nhìn xa / vào bốn nghìn năm đất nƣớc quan sống, quy luật nội tình cảm lý giải hình tƣợng thơ sinh động Từ việc quan sát Mẹ quả, Nguyễn Khoa Điềm có phát -Rồi mai ta xa Giọng thơ trữ tình đằm thắm làm trái tim ngƣời đọc xúc động đồng cảm với cảm xúc nhà thơ xác lí thú Lũ từ tay mẹ lớn lên Nguyễn Khoa Điềm có tâm hồn đậm sâu chất Huế, nên giọng thơ Còn bí bầu lớn xuống ân tình thuỷ chung Những ngày tháng cảnh ngƣời qua đời in bóng Phải qua suy tƣ chiêm nghiệm nhà thơ đến nhận thức Những tâm hồn nhà thơ Dù đời nhiều thay đổi lòng ngƣời đổi thay nhƣng không vô tri, vô giác mà trở nên có hồn trĩu nặng tình cảm ơn nghĩa, nên mang với Nguyễn Khoa Điềm Riêng năm tháng đời / Thì xưa Có dáng giọt mồ hôi mặn / nhỏ vào lòng thầm lặng mẹ Liên tƣởng đến thân, ngày Thời gian phủ màu sƣơng gió lên da, mái tóc nhƣng Nguyễn Khoa Điềm xoáy vào niềm âu lo không đền đáp đƣợc lòng mong mỏi xoá nhoà lý tƣởng thời trai trẻ Có thể khác / Có thể em bật mẹ Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi / Mình thứ non xanh rễ hồn anh Em chò anh Là ngƣời thông minh lại có nhiều trải nghiệm, lăn lộn với đời sống nên Ngƣời đọc không xao xuyến nét Huế từ giọng điệu thơ ân tình nhỏ giọng thơ luận - triết lí thơ Nguyễn Khoa Điềm ngày chiếm ƣu nhẹ mà từ ngữ mang sắc thái địa phƣơng xuất nhiều Có thể khẳng định, nhà thơ tìm cho chất giọng riêng, đặc biệt thơ Nguyễn Khoa Điềm Những từ o, mạ, chi, nớ, hoài, ráng làm tăng tính trữ dòng chảy thơ ca chống Mỹ tình cho câu thơ, mà cần đọc lên ngƣời đọc liên tƣởng đến xứ Huế Thơ Nguyễn Khoa Điềm bắt rễ sâu vào mảnh đất văn hoá dân gian nên Giọng trữ tình Bản chất thơ giọng trữ tình tiếng nói tình cảm, cảm xúc lời ru thành giọng điệu Tiếng ru vừa thân nâng niu, trân Khi viết vấn đề trọng đại dân tộc, thơ Nguyễn Khoa Điềm có giọng trọng, vỗ về, vừa cách nói gián tiếp, xa xôi với ngƣời khác, lại vừa nhƣ nói với luận cao, vang, thuyết phục nhƣng viết nỗi niềm nhạy cảm mình tâm hồn ngƣời tình yêu quê hƣơng đất nƣớc, tình yêu đôi lứa, tình đồng đội , -Ngủ ngoan AKay ơi, ngủ ngoan AKay giọng thơ Nguyễn Khoa Điềm trầm xuống thiết tha sâu lắng Mẹ thƣơng AKay, mẹ thƣơng đội Tình yêu quê hƣơng đất nƣớc chủ đề có tính sử thi nhƣng vào thơ Nguyễn Khoa Điềm đƣợc "đời tƣ hoá" Chƣơng Đất Nước Mặt đường khát Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 79 Khúc hát ru em bé lớn lên lưng mẹ -Ngủ ngoan mẹ Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 80 Đêm đêm diệu vợi, mẹ ngồi mẹ ru văn hoá dân gian, văn hoá Huế nên vừa chân thật nồng nàn, vừa phóng khoáng bay Biển ru lời biển bao đời bổng vừa đằm sâu đậm đà sắc dân tộc Mẹ ru lời mẹ thời với Chính luận, trữ tình, triết lí ba cung bậc bật giọng điệu thơ Nguyễn Biển trước mặt Khoa Điềm Không đứng riêng độc lập mà ba giọng điệu hoà quyện với Giọng thơ dịu dàng, thủ thỉ tâm tình nhƣ lòng ngƣời mẹ Một số thơ nhuần nhị Trí tuệ thơ không mệnh lệnh khô khan mà hoá thân vào khác Nói với con, Ngôi nhà có lửa ấm có giọng thơ bao dung, da diết hình ảnh ngôn ngữ thơ thấm đẫm cảm xúc từ rung động sống Gọi lòng ngƣời cha trải mạnh mẽ phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm luận - trữ tình Bên cạnh phong vị dân gian truyền thống, giọng trữ tình thơ Nguyễn Giọng suy niệm - tự bạch độc thoại Khoa Điềm mang tính đại đậm nét Mặt đường khát vọng mang tính chất Giọng thơ hoài niệm khứ khúc giao hƣởng thơ Mỗi chƣơng chủ đề nhỏ, kiểu nhân vật trữ Chiến tranh lùi vào khứ, nhƣng dƣ âm lòng tình nhân vật tập thể, nhân vật trữ tình anh, em, nhân vật tâm trạng, nhân vật hành nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm ngƣời lính, trải qua khói lửa chiến trƣờng động Mạch cảm xúc trữ tình vận động tạo thành cốt truyện ngầm xâu chuỗi nên thơ ông tiếng nói thi sĩ giàu suy tƣ trải nghiệm hoàn kiện nhân vật làm cho tác phẩm trở nên thống Điều làm cho cảnh chiến đấu Những kỉ niệm Trƣờng Sơn, tình đồng đội chiến giọng trữ tình chuyển hoá linh hoạt với cung bậc cảm xúc khác nhau tâm hào, gian khổ hy sinh , tất âm hƣởng hào hùng đƣợc Nguyễn Khoa trạng xao xuyến, bồi hồi, tạm biệt tuổi thơ để bƣớc vào đời đầy thử thách Điềm thể giọng thơ hoài niệm thiết tha sâu lắng khứ Giọng thơ Ta lớn lên bối rối sắc hồng / Phượng nở hoài đếm tuổi ; lòng căm thù hoài niệm ta thấy xuất nhiều tập thơ viết sau chiến tranh giặc bùng lên mãnh liệt Ta căm giận chúng mày ngàn đời giặc Mỹ, lắng lại là Ngôi nhà có lửa ấm Cõi lặng sâu thẳm thành nỗi đau nhói buốt tâm hồn Mỗi nỗi đau từ vô tận vô / ùa vào Những đƣờng không trở lại nhà góc phố; tình yêu đất nƣớc, yêu dân tộc tha thiết đến nghẹn ngào Em Đã xuyên qua mạch máu âm thầm em, Đất Nước máu xương / Ta nghẹn ngào Đất Nước Việt Nam Anh nghe đập bƣớc chân đồng đội Khi tuổi trẻ miền Nam xuống đƣờng đấu tranh, giọng thơ trữ tình bắt nhịp vào Bao lối mòn chớp lửa chiến tranh không khí thời đại trở nên hào hùng, khí thế, cuồn cuộn sức mạnh phong ba nhấn chìm kẻ thù Những hát, đường người Trong tiềm thức Nguyễn Khoa Điềm, chiến đấu gian khổ hôm qua Ta lớn lên nhịp bƣớc tuần hành khởi nguồn cho sống hôm Những thuộc chiến tranh thẳm sâu Ngực trải rộng chứa tầm biểu ngữ tâm hồn họ Trƣờng thành cổ, ta làm trƣờng thành trẻ Chúng ta trộn đất Sông lặng im, ta đổ sóng mặt đƣờng Đã bơi qua bao dòng sông Nhƣ giọng điệu trữ tình thơ Nguyễn Khoa Điềm không khởi phát từ trái tim giàu cảm xúc, sống với thời đại mà đƣợc chắt lọc từ Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 81 Lội bao suối mùa mƣa Ăn rau rừng Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 82 Chống gậy lò dò sốt thời đại Ông qua sát, nhìn nhận từ thực sống để từ đƣa 40 năm gặp lại – Cõi lặng nhận định ngƣời sống thời Giọng thơ Nguyễn Khoa Điềm đặc Gặp lại sau chiến tranh 40 năm, nhƣng kỉ niệm tình đồng đội, sắc nhờ suy tƣởng Thơ Nguyễn Khoa Điềm đằm sâu suy ngẫm gian khổ hy sinh nhƣ hôm qua Điệp từ “đã” tái cách sinh liên tƣởng bất ngờ “Mạch cảm nghĩ thơ anh chủ yếu tạo nên từ động, cụ thể nhƣ nhà thơ sống thực hồi tƣởng Cuộc liên tưởng triển khai vốn sống thự tế, vốn văn sống thiếu thốn gian khổ nhƣng không dập tắt đƣợc lửa yêu đời hóa ” [15] ngƣời lính năm xƣa Trong sống quanh ta có điều xảy khiến phải suy Thơ Nguyễn Khoa Điềm xuất tâm tƣởng hai khoảng không ngẫm nhƣ vô nhân đạo phi nghĩa chiến tranh, hòa bình với bộn bề gian khứ, để tâm hồn nhà thơ vƣơng vấn với hai nẻo không gian phức tạp sống Là ngƣời trải Nguyễn Khoa Điềm chứng kiến bao ấy kiện, để suy ngẫm đời này Buổi chiều núi lồng lộng cuối đƣờng Chúng ta kẻ không may mắn Chợt lối mòn thời chiến tranh Rồi nhập vào dòng chảy điều tốt đẹp Với ngƣời lính mang tuổi xuân Dòng nƣớc rửa đớn hèn Định vị - Cõi lặng Dẫu có nhƣờng lời cho bọn khoác lác Ngƣời đọc cảm nhận đƣợc giọng thơ hoài niệm qua khứ Trong thở Tôi hiểu Cuộc đời thật khó sống tại, Nguyễn Khoa Điềm trở thành phố tuổi thơ, đạp xe dọc bờ Trong chiến tranh, Nguyễn Khoa Điềm thƣờng suy ngẫm Đất nƣớc lý sông, hút tâm trí đƣờng bơi theo bống cát, gió nam thổi từ rừng xa tƣởng, sống, chết , nhƣng sống hòa bình đằng sau vẻ bình yên về, đám mây giống dãy phao cửa biển Hiện thực gợi nhớ tâm hồn sống thƣờng nhật có điều đáng phải suy ngẫm thơ ông nhà thơ “lối mòn thời chiến tranh”, với ngƣời lính tuổi 20 Ông qua tất cả, để nhìn lại mình, chiêm nghiệm từ mình, Trong Ngôi nhà có lửa ấm, nhìn dáng trầm ngâm thâu đêm cha thực ngồi ngắm khuôn mặt mình ngồi quạt lửa cho con, nhƣng tâm tƣởng lại hƣớng khứ, khứ -Cõi lặng Anh soi thấy mặt oai hùng hệ cha anh sống với nỗi buồn Cha ngồi dáng người thượng cổ Cõi lặng Nhớ mười năm đốt lửa Trường Sơn -Chỉ cần sát-na biết lắng Giọng thơ hoài niệm thiết tha nhƣng không đơn nhớ khứ mà nhắc nhở ngƣời sống hôm trân trọng tự hào khứ oai hùng dân tộc Một hạt cơm đời Tập thiền Giọng thơ suy tư – chiêm nghiệm đời Cuộc đời thế, Nguyễn Khoa Điềm vào cõi lặng để đƣợc nhìn Nguyễn Khoa Điềm thƣờng hay suy ngẫm chiêm nghiệm ngƣời Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên vào sống ngắm mình, nhìn ngắm xung quanh hiểu rằng 83 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 84 Nhiều đá dạy ta mềm mỏng Hình tượng Lửa – Máu Sự tàn nhẫn nhắc ta điều lành Lửa Máu hai hình ảnh xuất với tần số dày đặc thơ Nguyễn Nỗi buồn đánh thức hi vọng Khoa Điềm, trở thành hai hình tƣợng sinh động phản ánh chân thực xác Hi vọng – Cõi lặng đời sống chiến tranh Hình tƣợng Lửa có giá trị thẩm mỹ phong phú Lửa Không phải cảm nhận đƣợc điều đó, cảm nhận đƣợc điều biểu tƣợng cho ánh sáng, ấm thân sống Hình tƣợng Lửa tƣởng nhƣ nghịch lí, nhƣng lại nguyên thật, làm ta bình tâm thơ Nguyễn Khoa Điềm chứa nhiều thông điệp thẩm mỹ biến hoá phong phú từ trƣớc thách thức đời Nhà thơ hết nhạy cảm với biến hình tƣợng gốc này động sống Chiến tranh qua, đầy rẫy xuống cấp đạo đức -Sao em không nhóm lửa văn hoá Ông nghiệm điều đau xót Thơ ơi Khi mồ hôi trở nên rẻ -Nhƣ trẻ nhỏ - lửa reo cƣời nhảy múa Kẻ ranh ma trở nên giàu Bếp lửa rừng Cánh đồng buổi chiều – Cõi lặng -Lửa làm nhuỵ, tám em xoè tám cánh Cuối ông nghiệm ra, thơ thơ lắng lại sau tất cả, dù vinh -Lửa toả sáng tám đôi chân nhỏ nhắn hoa phú quý hay bối thƣờng nhật đời Cõi lặng vang lên -Anh giữ lửa cho em tròn giấc câu thơ Trong buổi chiều Những bàn chân nhỏ Vì mến yêu hơn? -Cha quạt cho chút lửa Vì xanh tƣơi hơn? Sƣởi ấm chỗ nằm Những hình tƣợng thơ biểu trƣng Ngôi nhà có lửa ấm Sự đa phức điệu giọng thơ đòi hỏi hình tƣợng nghệ thuật phải Trong chiến tranh kẻ thù gieo tội ác quê hƣơng giàu tính biểu tƣợng Nguyễn Khoa Điềm có trƣờng liên tƣởng phong phú, sâu đất nƣớc, tàn sát dân lành nên thơ ngùn ngụt lửa lòng căm thù rộng nên hình tƣợng thơ mang nhiều lớp ý nghĩa Nguyễn Khoa Điềm sáng tạo hình giặc sâu sắc tƣợng theo cách riêng độc đáo Từ hình tƣợng gốc, liên tƣởng -Em ta máu lửa căm thù lịch sử, văn hoá chiêm nghiệm đời sống, Nguyễn Khoa Điềm tạo nên đa dạng cho hình tƣợng Nhờ hình tƣợng thơ Nguyễn Khoa Điềm vừa cụ thể, Gửi anh Tường -Lửa cháy hồng hào mặt đất thực tế, vừa biểu tƣợng có ý nghĩa khái quát, mang thở Mùa chín tình yêu, mùa chín hận thù sống chiến trƣờng sống đời thƣờng -Lửa cháy lên Trong giới hình tƣợng phong phú thơ Nguyễn Khoa Điềm, xin nêu số hình tƣợng có ý nghĩa tiêu biểu mang phong cách riêng Nguyễn Khoa Lửa ngàn đời từ bếp cháy lên Mặt đường khát vọng Điềm Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 85 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 86 Hình tƣợng lửa biểu trƣng cho lý tƣởng cách mạng rực cháy tâm Cùng bạn nhƣ ánh lửa kề bên hồn tuổi trẻ, tâm hồn ngƣời lính, làm họ sống gắn bó tình đồng chí, đồng đội, khơi nguồn động lực để chiến đấu vƣợt qua bao gian khổ hy sinh Bếp lửa rừng sâu thẳm khát vọng hoà bình đƣợc trở với tình yêu mái ấm gia đình -Mình nhớ bếp lửa rừng ngày gặp lại Em có thật, dịu dàng Ta nói nhiều đất nƣớc nhân dân Nhƣ nhà ấm lửa Chúng ta sẵn sàng cho giảng đầu tiên Những thơ tình viết chiến tranh -Bếp lửa quây quần suốt anh em Trong đấu tranh trực diện với kẻ thù, lửa trở thành vũ khí chiến đấu ý Không nhìn nhìn lửa chí chiến thắng quân thù xâm lƣợc Ở cháy ý nghĩ -Chúng muốn lửa có lửa -Chúng ngồi xoè bàn tay lửa nóng Bom xăng ta ném cháy mặt phừng phừng Máu bàn tay mang ấm vào tim -Khép vòng vây dội lửa xuống đô thành Bếp lửa rừng -Ta đan lửa bầu trời cao rộng Hình tƣợng lửa biểu sức sống bất diệt ngƣời Việt Nam, dân Mặt đường khát vọng tộc Việt Nam Sức sống đƣợc truyền giữ qua bao hệ, tiềm tàng bùng lên -Có nhƣ buổi sáng xuân mạnh mẽ Chúng ta bay nghìn độ lửa ta bay -Họ truyền lửa qua nhà từ than cúi Đất ngoại ô -Hãy đứng dậy giơ cao đuốc -Nhịp thời gian cấp tập nụ xoè Của tình yêu khơi lửa ngàn đời Đã bén lửa mùa hè sáu chín Mặt đường khát vọng Con chim thời gian -Hãy đốt sáng bừng bừng lửa Bao trùm phức điệu hình tƣợng lửa ác liệt năm tháng Thứ ánh sáng chiến tranh Hình ảnh bếp lửa gợi đêm Trƣờng Sơn trải dài theo bƣớc chân Đây thứ ánh sáng Việt Nam ngƣời trận Những ngƣời lính qua chiến tranh quên kỷ niệm Ngọn đèn dầu mẹ ta thức khuya dậy sớm bên bếp lửa rừng Ngọn đuốc cha cày sâu cuốc bẫm -Trăm bếp lửa trải dài trận tuyến Ngọn sáp hồng soi máu lệ tổ tông Có bếp không bóng bạn Những lửa thắm lên trang sử anh hùng -Lòng bập bùng bếp lửa xa xôi Đêm không ngủ Bếp lửa rừng Hình tƣợng lửa mang khát vọng sum vầy hạnh phúc Có thể nói có lửa vừa nhƣ thực cụ thể chiến tranh, vừa -Ơi ta yêu phút đây khói, cây, tiếng Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên nhƣ hình tƣợng thơ, biểu tƣợng tinh thần toả sáng câu thơ 87 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 88 Nguyễn Khoa Điềm Chiến tranh qua, nhƣng bếp lửa rừng đƣợm Mặt đường khát vọng tâm hồn Hình tƣợng lửa có mặt thơ Nguyễn Khoa Điềm viết sau chiến -Ở miền Nam bùn máu dƣới bàn chân tranh nhƣ khẳng định ký ức Trƣờng Sơn phai nhoà Tháng chạp Hồng trường -Nghe thƣơng mến thắp lên lửa Ở Mặt đường khát vọng, tuổi trẻ nhận nỗi đau thời đại từ màu đỏ -Bao lối mòn chớp lửa thời chiến tranh máu Những hát, đường người -Phƣợng rơi cánh tƣơi hồng -Nhớ mƣời năm đốt lửa Trƣờng Sơn Đau nhƣ máu tâm hồn son trẻ Ngôi nhà có lửa ấm -Máu đỏ mà phấn thầy trắng -Nhìn thƣơng mắt Để vạch trần tội ác kẻ thù, hình ảnh máu nói đƣợc đầy đủ chất thú Còn lung lay lửa rừng tính man rợ tàn bạo kẻ thù Thời bom đạn -Chúng phả vào không gian mùi mặn Về quê đón Tết – Cõi lặng máu săn ngƣời Những lửa thắp sáng tâm hồn nhà thơ chiến tranh lửa lý tƣởng, -Một tờ giấy bảy nghìn tờ máu vấy lửa sống, lửa niềm tin, lửa khát vọng tiếp tục toả ấm thơ viết -Nó giết ngƣời ƣ? Có thần Tự chùi máu ngày im tiếng súng nhƣng bao gian nan vất vả Hình tƣợng lửa -Nay miệng thằng ác ôn ngòm gan với máu trở thành yếu tố hội tụ lan toả toàn nghiệp sáng tác thơ Nguyễn -Để loài ngƣời vừa ăn vừa xem máu vãi Khoa Điềm -Nên nƣớc bọt ngầu máu ngƣời lợm Cũng nhƣ hình tƣợng lửa, hình tƣợng máu kết đọng suy nghĩ xúc cảm Mặt đường khát vọng nhà thơ nên mang nhiều tầng ý nghĩa Hình ảnh máu đỏ gợi ấn tƣợng Hình tƣợng máu biểu trƣng cho lòng nhiệt tình cách mạng, tinh thần xả đau thƣơng Để khắc hoạ nỗi đau đất nƣớc bị ngoại xâm giày xéo, nhân dân phải thân nƣớc, coi hy sinh mát dân tộc trách nhiệm ngƣời hứng chịu tai hoạ chiến tranh cách trực tiếp, Nguyễn Khoa Điềm dùng hình ảnh Tuổi trẻ chống Mỹ chấp nhận thản Ta ném máu xƣơng ta làm vật cản máu -Chỉ có tiếng đoàn xe lê dƣơng lăn lạo xạo đốt lƣng trần Máu đổ rồi! máu học sinh, sinh viên Chỉ có tiếng còi tàu há mồm nhƣ giòi rúc vào mạch máu Máu đỏ rực áo trắng Đất ngoại ô Máu thắm tự chói sáng -Nón in màu máu dân lành Máu Việt Nam, máu yêu nƣớc tƣơi hồng! Người gái chằm nón thơ Mặt đường khát vọng -máu mùa hè lại đổ Trong lịch sử dựng nƣớc giữ nƣớc dân tộc, thệ hệ cha -máu ta đỏ đƣờng ta trƣớc mắt Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ông đổ máu Nguyễn Khoa Điềm đánh thức thơ từ nỗi lòng Nguyễn 89 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 90 Trãi lo giữ nước lo dựng nước / Hàng trăm năm qua lòng thương tiếng cuốc nhà thơ Yêu thƣơng mẹ đến cháy lòng, xót xa động lực khởi đầu thúc giục ngƣời / Gọi nước đêm nhỏ máu trang, đến gƣơng anh Trỗi hy sinh lên đƣờng đánh giặc Trong cảnh nƣớc, nghe mẹ hát câu Nam liệt sĩ vô danh buồn thê thiết nhà thơ thấy đau lần Trong tổng tiến công Mùa xuân -Những địa danh trôi từ thuở xa xƣa 1968, đƣợc chứng kiến sức mạnh Cách mạng trỗi dậy Huế, nhà thơ xúc động đến Trôi máu trôi nƣớc mắt nghẹn ngào hƣớng biết ơn tới ngƣời mẹ sinh thành Mặt đường khát vọng Cảm ơn mẹ sinh thành phố -Các anh nằm lại Ngàn ngày nắng mƣa, mƣời lăm năm bỡ ngỡ Máu chƣa đỏ Những nhận thức dân tộc, đất nƣớc, nhân dân, thời đại Nguyễn Máu anh ngấm thêm vào gốc lúa Khoa Điềm gắn liền với lời dặn dò mẹ đổi nước không đƣợc bán nước Vụ gặt nặng thêm máu anh Hình ảnh ngƣời mẹ theo Nguyễn Khoa Điềm vào chiến trƣờng giáp Hình tƣợng máu thơ Nguyễn Khoa Điềm khẳng định sống bất ranh sống chết, tâm hồn Nguyễn Khoa Khoa Điềm xanh non màu xanh diệt dân tộc đƣợc tiếp nối, từ hệ truyền cho hệ khác máu thấm vƣờn mẹ, hƣớng quê hƣơng nơi có mẹ hiền Hướng dương thương nhớ sâu xuống mặt đường / Máu cháu hoà với máu cha ông/ Nhưng hạt máu nghiêng phía cha sáng ngời ánh mắt / Hạt máu em nguyên màu Từ chất liệu đời tƣ Nguyễn Khoa Điềm dung chất liệu thực mẹ cha Mƣời sáu năm lớn lên; Dưới ngực thân yêu trái tim Đảng / Chia sống để phát triển hình tƣợng ngƣời mẹ lên tầm cao Ngƣời mẹ máu cho vắt cơm ăn Mẹ trận có gì chiến tranh trở nên phi thƣờng sức chịu đựng Kẻ thù chia cắt đất nƣớc Để phản ánh chiến tranh, hình tƣợng máu bao quát phạm vi thực chia cắt tình cảm vợ - chồng, cha – con, mẹ phải gồng lên, bền gan kiên định rộng chiều sâu tƣ tƣởng Máu với hình tƣợng lửa bộc lộ nét độc nuôi nỗi nhớ chồng cồn cào cháy bỏng Mƣời sáu năm qua đáo phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm mẹ lại tiễn trận Cách biệt không gian thời gian nhƣng cha, mẹ em Hình tượng người mẹ gần gũi, gắn bó trận tuyến diệt thù Em cha chiến hào / Mẹ xẻ, Ngƣời mẹ thơ Nguyễn Khoa Điềm hình tƣợng nghệ thuật có mẹ đào bom đạn Mƣời sáu năm lớn lên chiều sâu liên tƣởng tầm cao tính biểu tƣợng Nguyễn Khoa Điềm xây Nguyễn Khoa Điềm dựng lên thơ nhiều hình ảnh ngƣời mẹ Đó bà dựng hình tượng người mẹ từ hình ảnh người mẹ mang nặng đẻ đau riêng nhà mẹ Vân Kiều hoà tình thƣơng vào tình yêu đội, yêu đất nƣớc hiến dâng thơ gắn kết với hình ảnh bao bà mẹ Việt Nam khác để nâng lên tầm vóc người đứa thân yêu cho Cách mạng Đó bà mẹ thành phố có ngƣời tham Mẹ Tổ quốc gia tranh đấu, biểu tình bị Nguỵ bắt phải trở thành ngƣời lính phía bên Học Kỷ niệm tuổi thơ quê hƣơng Nguyễn Khoa Điềm gắn hành thành dang dở, ngƣời để lại cho mẹ tờ giấy trắng - niềm hy với mảnh đất ngoại ô nghèo khó hình ảnh ngƣời mẹ tảo tần thay chồng nuôi vọng trở Trang giấy dƣới bàn tay mẹ "thành truyền đơn mặt trận / Gọi Trong thơ Đất ngoại ô Những đồng tiền ngoại ô, ngƣời mẹ quán anh em binh lính quay về" Không lần lƣợt tiễn chồng trận mà ngƣời mẹ nghèo bám bờ đƣờng nhựa vất vả lam lũ nhƣ nỗi đau day dứt tâm hồn trở thành chiến sĩ Bà mẹ Vân Kiều địu để dành trận cuối, bà mẹ Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 91 92 thành phố hoạt động lòng địch Mẹ trận đối đầu với ác, xấu xa, Cùng với hình tƣợng độc đáo mang dấu ấn riêng, Nguyễn Khoa Điềm nham hiểm mà ung dung thƣ thái, chủ động bình tĩnh đến nhƣờng Mẹ sử dụng hình tƣợng áo trắng - mặt đường để tái trình xuống đƣờng trận với vũ khí đôi bàn tay mặt thằng gian vẫy ngƣời ngay, với mái tóc bời tranh đấu phong trào học sinh, sinh viên thành phố năm chống Mỹ bợi sợi bạc để gọi dân làng xuống đƣờng, với trái tim mìn chông Hình ảnh Chính hình tƣợng áo trắng mặt đường khu biệt Nguyễn Khoa Điềm với mẹ mộc mạc giản dị, nhỏ bé mà tiềm tàng sức mạnh làm cho quân thù phải khiếp nhiều tác giả khác thời sợ Anh em mặt đường Mẹ vào huyện, mẹ tiến vào thành Đại lộ hai hàng mở cửa Mẹ đòi nhà, mẹ giành lại đất Áo trắng lên từ nhà Mẹ đấu tranh đƣờng cay cực Rất tƣơi, khoẻ Trong hình tƣợng ngƣời mẹ, có hình ảnh ngƣời mẹ hiền nhà thơ Nhƣ cánh chim câu thành phố câu thơ thƣơng nhớ Rộng hơn, bà mẹ nghèo lam lũ ngoại ô, Bay ngƣời mẹ miền Nam tay không thắng giặc, cao xu hƣớng Nguyễn Khoa Điềm sáng tạo nên hình ảnh thơ bay bổng, khoẻ triết luận tinh thần sử thi, ta gặp hình tƣợng bà mẹ Việt Nam, bà mẹ Tổ Quốc khoắn trẻ trung Áo trắng - mặt đường biểu tƣợng kép đấu tranh Vũ khí Hình tượng thơ đặc thù mang nét riêng phong cách Nguyễn Khoa Điềm họ súng đạn mà tuổi trẻ, sức mạnh lẽ phải Mặt đường Đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm ta thấy hình tƣợng thơ tiêu biểu mặt trận, áo trắng sinh viên hoà vào dòng thác nhân dân đấu tranh trực diện với kẻ nhƣ đề cập trên, hình tƣợng thơ ông nhƣ đƣợc “bứng” từ sống thù đƣa vào Hiện thực thơ ông đƣợc lên qua hình ảnh sống động, Nếu nhƣ vùng thẩm mỹ Phạm Tiến Duật Trƣờng Sơn ngƣời mang thở sống nhƣng lại thể đƣợc nét riêng phong cách lính lái xe, với Nguyễn Khoa Điềm màu áo trắng tràn ngập mặt đƣờng Nguyễn Khoa Điềm Ở đó, hình ảnh gà đất, kèn súng, áo phong trào học sinh, sinh viên năm chống Mỹ Đây nét riêng trắng, mặt đường Là hình ảnh chân thực tƣơi ròng chất sống, đƣợc nhìn phong cách Nguyễn Khoa Điềm qua lăng kính nhà thơ nâng lên thành hình tƣợng thơ độc đáo thấy Thành công việc lựa chọn sử dụng hình tƣợng, hình tƣợng mang thơ Nguyễn Khoa Điềm Từ hình ảnh gà đất bảy màu đồ chơi trẻ đến tính biểu trƣng tạo nên đặc sắc cho thơ Nguyễn Khoa Điềm Những hình ảnh hình ảnh kèn súng, Nguyễn Khoa Điềm dựng lên hình tƣợng biểu chân thực sống đƣợc nhà thơ chắt lọc, tái tạo cách chân thực trƣng cho ba chặng đƣờng đời ngƣời niên vùng tạm chiếm mang ý nghĩa tiêu biểu điển hình, gây đƣợc cảm xúc mạnh mẽ ngƣời đọc Hình Tuổi thơ tràn đầy hạnh phúc thở mùa xuân sắc màu gà đất tƣợng thơ Nguyễn Khoa Điềm nói lên đƣợc chiều sâu sống lí Nhƣng tuổi thơ trôi qua nhanh chóng, bất ngờ nhƣ gà đất vỡ tan tƣởng thẩm mỹ thời đại tay trẻ Giờ đây, anh phải làm nghề thổi kèn để kiếm sống, tiếng kèn nhƣ Vận dụng nhuần nhuyễn chất liệu văn hoá dân tộc tiếng nấc âm cất lên tức tƣởi, tủi nhục, nhƣng không tuyệt vọng Muốn ngất Ảnh hưởng thể loại sử thi dân gian trường ca "Mặt đƣờng khát /Anh mơ gà bảy sắc / Nở hoa môi vọng" Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 93 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 94 “Trƣờng ca tác phẩm thơ có dung lƣợng lớn, thƣờng có cốt truyện tự trữ tình” [10] hƣớng lỏng lẻo Tuy chúng đóng vai trò quan trọng kết cấu Tuyến kiện trƣờng ca Mặt đường khát vọng có vai trò quan trọng Ở chƣơng Trƣờng ca tƣợng tiêu biểu thời đại mang tính sử thi Chất “sử trƣờng ca, hệ thống chi tiết kiện đƣợc huy động cách hiệu thi” trƣờng ca kế thừa thể loại sử thi dân gian Theo Từ điển Ở trƣờng ca, tuyến kiện gắn với hệ thống nhân vật Tuy thuật ngữ văn học “sử thi còn gọi anh hùng ca thể loại tự xuất nhiên trƣờng ca không miêu tả nhân vật với tính cách hành động nhân vật sớm lịch văn học dân tộc nhằm ca ngợi nghiệp anh hùng có ý nghĩa nhƣ truyện tiểu thuyết Trƣờng ca ý tới nhân vật có toàn dân có ý nghĩa trọng đại dân tộc buổi bình minh lịch sử Về chi tiết hành động chứa đựng chất thơ thực Có nhiều tuyến nhân vật kết cấu sử thi câu chuyện đƣợc kể đầu đuôi với quy mô lớn theo Heghen trƣờng ca Mặt đường khát vọng Đó nhân vật tập thể trình nhận “nội dung hình thức thực toàn quan niệm, toàn thức đấu tranh dành độc lập, nhân vật “anh”, “em” trữ tình đằm thắm sống dân tộc đƣợc trình bày dƣới hình thức khách quan biến chƣơng “Đất nƣớc” đặc biệt nhân vật xƣng “ta”, “tôi” Khác với thơ trữ tình, cố thực tại” nhân vật thứ trƣờng ca không trình bày cảm xúc Cuộc kháng chiến gian khổ dân tộc ta làm nảy sinh cách tự bị chi phối tuyến kiện Một mặt không xuất với tƣ trƣờng ca Bài ca chim Chơ Rao - Thu Bồn; Ngọn giáo búp đa - Ngô Văn Phú; cách cá nhân mà với tƣ cách ngƣời đại diện cho hệ, cho lớp ngƣời, cho cộng Những người tới biển - Thanh Thảo; Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh Hơn bất đồng, cho dân tộc Mặt khác, thể chức thể loại ngƣời dẫn thể loại nào, trƣờng ca với đặc trƣng ƣu có mặt nơi đầu chuyện, ngƣời gợi ý mách bảo, ngƣời cung cấp thông tin, ngƣời điều tiết phân bố sóng gió để kịp thời phản ánh biến động lịch sử, để ngợi ca chiến liên kết kiện lại thành chỉnh thể Nhân vật thứ đấu đầy khí phách anh hùng dân tộc ta nhà thơ tham gia, tác động vào kết cấu tác phẩm với tƣ cách nhân vật tâm Hòa không khí đó, trƣờng ca “Mặt đƣờng khát vọng” Nguyễn Khoa trạng nhân vật hành động Nhờ mà nhịp điệu phát triển trƣờng ca sôi nổi, Điềm đời năm 1971 xuất 1974 đƣợc đông đảo bạn đọc tiếp nhận Trƣờng khẩn trƣơng, hào hứng Ở trƣờng ca tác giả hoà vào không khí tác ca Mặt đường khát vọng nhƣ trƣờng ca thời kì kháng chiến chống Mỹ phẩm, sống với chi tiết việc suy nghĩ hành động ngƣời trƣờng ca trữ tình tái đời sống tính chủ quan nhà thơ tác phẩm giới nghệ thuật đƣợc tổ chức theo nguyên tắc Đây nét mẻ Văn học kháng chiến khẳng định trƣờng ca nhƣ thể loại tiêu trƣờng ca thời kì chống Mỹ khác với trƣờng ca sử thi, trƣờng ca tự trƣớc Mặt biểu, đặc trƣng văn học giai đoạn Trƣờng ca Mặt đường khát vọng khác bị chi phối yêu cầu thể loại có kết cấu dài hơi, nên phát triển từ thơ trữ tình nhƣng ảnh hƣởng rõ nét sử thi dân gian dung phải ý đến việc xây dựng nhân vật tuyến kiện Điều tƣơng ứng lƣợng, tính chất anh hùng ca chủ đạo, kiện dồi dào, nhân vật đại diện cho tập thể với lối triển khai sử thi dân gian Để có tuyến kiện trƣớc hết ngƣời ta cần tìm Nguyễn Khoa Điềm biết kế thừa phát triển có để phù hợp với thực đến với cốt truyện Ở trƣờng ca cốt truyện không thiết phải có nhiều tình tiết thẩm mỹ thời đại Nhờ bộc lộ đậm nét chủ quan khả biểu mang hành động mà cốt tạo tình thống cho tác phẩm Trong màu sắc riêng mà trƣờng ca Nguyễn Khoa Điềm có nét lạ so với bất trình vận động thể loại trƣờng ca sau tuyến kiện có xu trƣờng ca khác thời Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 95 96 Biết quý công cầm vàng ngày lặn lội Chất liệu văn học dân gian thơ Nguyễn Khoa Điềm Dân tộc ta có văn học dân gian phong phú có truyền thống lâu Những câu chuyện cổ tích nhƣ Tấm Cám, Cây Khế, truyện Trạng Quỳnh đời Nền văn học thể sức sống, kinh nghiệm đấu tranh xã hội tự nhiên, câu chuyện dân gian mà ngƣời Việt Nam biết trở thành chất liệu thể trí tuệ thông minh những ứng xử tốt đẹp nhân dân lao động chuyển hóa thành thơ qua hàng ngàn năm lịch sử Đánh lừa thuồng luồng mặt Khai thác đƣợc tất lực biểu vẻ đẹp ngôn ngữ thơ ca dân Đánh lừa thằng giặc truyện Trạng Quỳnh tộc để biểu hiện thực phong phú đời sống, sở chủ yếu tạo nên tính Rằng cô Tấm làm hoàng hậu dân tộc thơ Nguyễn Khoa Điềm Cây khế chua có đại bàng đến đậu Trong chƣơng Đất nước, Ngôn ngữ thơ đƣợc sử dụng từ chất liệu văn học Chim ăn trả ngon cho ta dân gian với tần số lớn Tuy nhiên chất liệu văn học dân gian thơ Nguyễn Lịch sử đất nƣớc ghi nhận nhiều “hóa thân cho dáng hình xứ sở” Khoa Điềm không dạng thân nó, chép sản phẩm Nhiều gƣơng dựng nƣớc giữ nƣớc trở thành truyền thuyết, tạo trƣờng văn cộng đồng mà đƣợc chuyển hóa vào lời chữ, giọng điệu, cách cảm, cách nghĩ hóa đặc sắc cho dân tộc Việt Những đá Vọng Phu, Trống Mái, nhà thơ tạo nên sắc riêng thơ ông ao đầm chân ngựa Thánh Gióng, Rồng, ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Chúng ta có kho tàng ca dao tục ngữ đậm đà phong vị trữ tình, kết tinh tình cảm cao quý nhân dân, kinh nghiệm lao động sản xuất đấu Điểm Sự pha trộn yếu tố vật chất với giá trị văn hóa tinh thần khiến cho câu thơ giản dị mang vẻ đẹp lấp lánh tranh Ca dao tục ngữ thấm vào Nguyễn Khoa Điềm cách tự nhiên Nguyễn Khoa Điềm biết khai thác chất liệu văn học dân gian câu cách nhìn nhận “Đất nƣớc”- đất nƣớc giàu truyền thống văn hóa Dấu tích chuyện cổ tích, truyền thuyết có tác dụng nhƣ việc sử dụng điển tích, điển cố ca dao tục ngữ liên tục đƣợc triển khai câu thơ "Tay nâng chén muối văn học nhằm làm cho ngôn ngữ thơ thêm cô đọng, hàm xúc, tạo nên màu sắc dân đĩa gừng / Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau" Lời ca dao xƣa chuyển hóa gian riêng thơ ông nhuần nhị câu thơ Nguyễn Khoa Điềm Trong hoàn cảnh đất nƣớc có chiến tranh, thơ ca phải nhằm động viên Cha mẹ thƣơng gừng cay muối mặn ngƣời chiến đấu Nhà thơ chọ cho đƣờng riêng chọn chất Đất nƣớc không trừu tƣợng mà trái lại gần gũi nhƣ thở liệu từ đời sống dân gian, đời sống vốn gắn bó thân thiết với tất ngƣời Việt sống, gắn liền với câu ca dao, dân ca duyên dáng ý nhị Nam, để thể hình ảnh Đất nƣớc gần gũi giản dị Cha ông ta Đất nƣớc nơi em đánh rơi khăn nỗi nhớ thầm giản dị làm nên Đất nƣớc vẹn toàn, đẹp đẽ, với tinh thần dân tộc cao Câu thơ gợi nhớ ca dao “Khăn thƣơng nhớ ai” Không thế, câu ca khát vọng trì sắc dân tộc, “truyền giọng điệu cho tập nói”, dao ca ngợi tình nghĩa ngƣời "Cầm vàng mà lội qua sông / Vàng rơi “gánh theo tên xã tên làng chuyến di dân”, cha ông truyền lại cho không tiếc, tiếc công cầm vàng" đƣợc nhà thơ khai thác thể truyền thống văn hóa nhƣ ngày hôm Nguyễn Khoa Điềm lựa chọn dòng thơ hƣớng sáng tác hoàn cảnh chiến tranh nhằm đánh thức bổn phận Dạy anh biết yêu em từ thuở nôi Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên niên đô thị miền Nam 97 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 98 Buổi hẹn hò lớn lao Ngôn ngữ giàu màu sắc địa phương Mỗi nhà thơ, nhà văn sinh lớn lên trình sáng tác không gắn bó với vùng miền định Trong trình sáng tạo, nhƣ tiếng phổ thông phƣơng tiện chung tác phẩm tiếng địa Vuốt tóc mẹ bảo “Ráng cho kịp anh em” Thưa mẹ đi phƣơng lại nhƣ dấu hiệu biểu phong cách cá tính nhà thơ Tiếng Ta yêu ngƣời nhƣ địa phƣơng có vai trò làm bật cá tính, tâm lí ngƣời vùng đất quê Đƣa ngƣời cho ta hƣơng cụ thể Nó có vai trò biệt hoá chung Những thơ tình viết chiến tranh Trong thực tiễn sáng tác thơ ca ta, nhiều nhà thơ biết phát huy tích cực Ngôn ngữ giàu màu sắc địa phƣơng tiếng địa phƣơng mặt ƣu điểm tiếng địa phƣơng đạt đƣợc thành công đáng mà thể câu thơ sử dụng địa danh riêng Từ lâu nhà nghiên cứu ghi nhận Qua tiếng địa phƣơng, ngƣời đọc đoán nhận đƣợc nhân vật miêu nhận tên riêng địa điểm địa danh, tên gọi quen tả tác phẩm thuộc vùng quê nào, cá tính họ thuộc có khả tạo thứ ma thuật âm tạo nên sắc riêng tác Là ngƣời sinh lớn lên đất Huế, Nguyễn Khoa Điềm tự hào mang phẩm Vào năm 50, Tố Hữu có câu thơ tuyệt diệu nét hồn hậu vùng văn hóa Cố đô Trong tác phẩm mình, tiếng Mƣờng Thanh, Hồng Cúm, Him Lam Huế đƣợc đƣa vào cách duyên dáng ý nhị Tiếng địa phƣơng làm cho Hoa mơ lại trắng vƣờn cam lại vàng tác phẩm ông thêm gần gũi hơn, khiến trƣờng cảm xúc ngƣời đọc đƣợc gia Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, tên riêng địa danh xứ Huế đƣợc sử dụng tăng phổ biến Việc đƣa địa danh vào thơ thể lòng yêu quê hƣơng tha Những đại từ ngƣời mang đậm chất Huế đƣợc thể thơ khiến cho ngƣời đƣợc miêu tả mang tính sinh động cụ thể thiết ông Vẻ đẹp dịu dàng thơ mộng sông Hƣơng xuất bao lần thơ ông, nhƣng ngƣời đọc thấy thật mẻ sông Hƣơng êm đềm -O phó bí thƣ mƣời bảy tuổi trở thành dòng sông anh hùng tháng năm đấu tranh chống kẻ thù -Có nhớ mạ xâm lƣợc Cả ngoại ô làm chiến luỹ sông Hương Đất ngoại ô.Trăm năm ta đến Sợ cƣời trước sông Hương / Vẫn soi thấy niềm đau nỗi giận Mặt đƣờng khát vọng Có Chiếc nôi vàng sông Hƣơng lại trở thành ngƣời bạn tâm tình nhà thơ Những từ địa phƣơng “chi”, “nớ”, “rứa”, “hoài”, “ráng” làm tăng tính đằm thắm, trữ tình cho câu thơ mà đọc lên ngƣời ta liên tƣởng đến xứ Huế Sông Hƣơng sông Hƣơng Ngƣơi nguồn với bể Ôi thành phố yêu thƣơng Để để đến Ta xa ngƣời nhƣ Còn ta hai lăm tuổi Tiễn bạn cuối mùa đông Trôi cạn mặt đƣờng Anh nói trăm lần anh sống Mặt đường khát vọng Và trẻ hoài nhƣ buổi chia li Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 99 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 100 Nhiều địa danh đƣợc nhắc đến thơ mang ý nghĩa riêng có Huế PHẦN KẾT LUẬN lẫn với vùng miền khác Tổ quốc -Trƣớc Phu Văn Lâu cờ vàng nhƣ tàu cải úa Thơ ca phải thực dựa vào giàu có tâm hồn, lĩnh cá nhân -Qua hoàng thành cha ông gọi tên ù ù họng súng thần công Nguyễn Khoa Điềm bày tỏ suy nghĩ thơ “Một cách nhìn -Góc chợ Xép nơi ngƣời đến sống hƣớng tin yêu lạc quan, tâm hồn giàu cảm xúc để đồng cảm, -Mặt trời vàng long lanh chợ Gia Lạc trí tƣởng tƣợng phong phú luôn mẻ sáng tạo nhân tố có ý nghĩa -Và cầu Trường Tiền định tâm hồn thơ Khi lực tinh thần lại gắn bó với Nhƣ dấu nối đời thực có nhiều mối liên hệ xã hội phong phú đƣợc bối đắp từ cộc Sắc thái địa phƣơng thể kiện, câu chuyện vào sống xung quanh, điều kiện đển xuất tài thơ” [13,91] kí ức ngƣời dân địa phƣơng đƣợc lƣu truyền rộng rãi Những kiện Soi chiếu ý kiến vào đƣờng đời đƣờng thơ Nguyễn Khoa Điềm, câu chuyện đƣợc phản ánh thơ Nguyễn Khoa Điềm Đó ngày kinh khẳng định điều Nguyễn Khoa Điềm tài thơ thực Một đô thất thủ 23 tháng âm lịch năm 1884 Nắng tháng năm run rẩy oan hồn / tài liền với phong cách sáng tạo Khảo sát phong cách thơ Người sống nhớ “ngày thất thủ” Đất ngoại ô Đều vẽ ngày thất thủ kinh Nguyễn Khoa Điềm hƣớng cần thiết đƣờng chiếm lĩnh giới đô Mặt đƣờng khát vọng; Đó biến kinh thành Huế, Tôn Thất Thuyết khởi nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm nghĩa chống Pháp năm 1885 Đó ngày 13/7 vua Hàm Nghi chiếu Cần Vƣơng Để làm bật phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm, luận văn theo Hịch Cần Vương tưởng vang qua chín cửa; Rồi câu chuyện mang đậm hƣớng khảo sát toàn sáng tác Nguyễn Khoa Điềm, sở tìm hiểu nét văn hoá địa phƣơng nhƣ Những câu thơ mụ Đội, chuyện mụ lý ông cò, những nét sáng tạo nghệ thuật nhà thơ chặng đƣờng sáng vườn thơ xưa tô đậm sắc Huế thơ Nguyễn Khoa Điềm tác Lịch sử Huế, văn hóa Huế thở hàng ngày Cố đô thấm vào máu thịt Sự nghiệp sáng tác Nguyễn Khoa Điềm gồm hai mảng lớn thơ viết ông cảm Huế chan chứa câu thơ ông Chính điều góp chiến tranh thơ viết hòa bình với mốc đánh dấu tập thơ Đất phần quan trọng tạo nên sắc riêng cho thơ Nguyễn Khoa Điềm ngoại ô, Mặt đường khát vọng, Ngôi nhà có lửa ấm Cõi lặng Hoàn cảnh xã hội thay đổi với vận động từ chiều cao rộng hƣớng ngoại sang chiều sâu hƣớng nội, nhƣng chất thơ trữ tình Nguyễn Khoa Điềm không thay đổi, làm nên tính thống nhất, toàn vẹn phong cách nhà thơ Dù đời hoàn cảnh nào, thơ Nguyễn Khoa Điềm lên trí tuệ sắc sảo, giàu tri thức sách đời; với tâm hồn giàu cảm xúc, nhạy cảm, lòng thuỷ chung với lý tƣởng mà chọn tự đặt cho trách nhiệm trƣớc đời Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 101 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 102 Ở thời kì chiến tranh, sống trực tiếp lòng chiến đấu Thơ Nguyễn đất trời quê hƣơng; dồn nén tâm trạng lo âu lạc quan tin Khoa Điềm thể cảm động xúc cảm ý thức dân tộc, thời đại tưởng vào sống dù im tiếng súng nhƣng chƣa bình yên; chiêm tâm hồn ngƣời yêu nƣớc Thời đại chống Mỹ vào thơ Nguyễn nghiệm khám phá giới nội tâm Khoa Điềm miêu tả trực tiếp mà khúc xạ qua nhận thức trải Trên đƣờng thơ mình, thơ Nguyễn Khoa Điềm có biến nghiệm máu thịt riêng nhà thơ nên đƣợc nâng lên tầm cao chiều sâu riêng đổi mẻ phù hợp với hoàn cảnh sáng tác Trong chiến tranh, tâm hồn Để khẳng định chân lí vĩnh dân tộc lòng yêu nƣớc, căm thù giặc ý chí Nguyễn Khoa Điềm cháy bỏng cảm hứng lớn lao Nhân dân - Đất nƣớc chiến đấu bất khuất Nguyễn Khoa Điềm vận dụng linh hoạt thơ sắc Là nhà thơ trẻ tự nguyện nhập đƣợc thử thách chiến tranh, thơ sảo trí tuệ ƣa khái quát triết lý, vốn kiến thức phong phú lịch sử - văn Nguyễn Khoa Điềm cất lên tiếng nói hệ ý thức trách nhiệm trƣớc hóa trải nghiệm thân Bởi vậy, vừa hòa chung với tiếng thơ chống vận mệnh đất nƣớc Mỹ nƣớc, hệ trẻ, thơ Nguyễn Khoa Điềm có phong cách Trong hòa bình, thơ Nguyễn Khoa Điềm vang vọng âm hƣởng sử thi hoành tráng, hào hùng Nhƣng sống sau chiến tranh nhiều bộn bề riêng Đặc biệt, Nguyễn Khoa Điềm đƣa vào thơ mảng thực quan xúc, chất sử thi nhạt dần nhường chỗ cho Nhà thơ đứng vị trí trọng thời đại chống Mỹ không khí sục sôi phong trào học sinh, sinh viên ngƣời đời thƣờng để quan sát, chiêm nghiệm vấn đề biểu thái đô thị bị tạm chiếm miền Nam đƣờng tranh đấu Tiếng thơ có lực độ tích cực xã hội thơ không lòng với điều phi lí, dự cảm âu lo tập hợp nhanh chóng lý tƣởng xã hội chung hoàn cảnh, tâm trạng trƣớc biểu không tốt đẹp nảy sinh gần gũi quen thuộc Nguyễn Khoa Điềm hoà quyện nhà thơ vào đối tượng Ở thời kì sáng tác thơ Nguyễn Khoa Điềm có biến đổi song song trữ tình để cất lên tiếng nói tuổi trẻ miền Nam Cùng hệ, sinh lớn với nhiều biến động thời đại nhƣng nhận Nguyễn Khoa Điềm lên thời đại không bình yên, nên tiếng thơ Nguyễn Khoa Điềm cất lên có sức phong cách ổn định đặc trƣng Thơ Nguyễn Khoa Điềm hội tụ kết tinh lay động tâm hồn tuổi trẻ nhiều nguồn văn hoá Đậm nét văn hóa dân tộc với truyền thuyết Có thể nói, đề tài tuổi trẻ miền Nam đấu tranh đƣợc thể mạnh mẽ cổ tích, ca dao, truyền thống lịch sử qua lớp ngôn ngữ dân gian cổ xƣa và đầy ấn tƣợng thơ Nguyễn Khoa Điềm, để nói mảng đề tài này, khiết Nguyễn Khoa Điềm ngƣời xứ Huế, nên tâm hồn Huế trở thành ngƣời ta phải kể đến Nguyễn Khoa Điềm nhƣ bút tiêu biểu nét phong cách riêng nhà thơ Chính cảm quan lịch sử, văn hóa, âm nhạc Bƣớc vào sống hoà bình, tiếng thơ Nguyễn Khoa Điềm trở nên thâm trầm lặng lẽ tìm cảm xúc sâu thẳm tâm hồn Thơ ông không sôi làm thành nét duyên riêng lẫn gây ấn tƣợng đặc biệt với độc giả thơ Nguyễn Khoa Điềm nhƣ trƣớc mà lắng đọng, hàm súc Đằng sau câu chữ ỏi, ngƣời đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm, phƣơng tiện nghệ thuật đóng vai cảm nhận ân tình sau trước, trân trọng sồng ngày hôm trò quan trọng việc tạo nét riêng phong cách Tổ chức phƣơng tiện biết ơn ngày hôm qua máu đổ Thấm thía giá trị hoà bình, nhà thơ tự đặt cho nghệ thuật hình thức nội dung, phƣơng trách nhiệm với sống ngổn ngang xây dựng đổi Ở phong cách Thơ Nguyễn Khoa Điềm có đa dạng giọng điệu, hình tƣợng xuất tâm hồn thi sĩ nhạy cảm rộng mở, giao hòa thiên nhiên phong phú giàu tính biểu trƣng Bằng giọng điệu hình tƣợng phù Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 103 104 hợp, Nguyễn Khoa Điềm có thơ đạt đến vẻ đẹp cổ điển, có sức sống THƢ MỤC THAM KHẢO lâu bền, tiêu biểu cho thành tựu giai đoạn thơ Việt Nam “Thơ cách chuyền lửa cho muôn đời sau” Chế Lan Viên Không sáng rực, chói lọi nhƣng lửa thơ Nguyễn Khoa Điềm ấm áp Hoài Anh Nguyễn Khoa Điềm với chủ đề thơ sóng đôi Đất khát vọng, Báo tình cảm đẹp đất nƣớc ngƣời sƣởi ấm cho hệ có lẽ văn nghệ, số 4/2002 hệ mai sau Vũ Tuấn Anh Văn học Việt Nam đại nhận thức thẩm định, NXB Khoa Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, ẩn sau bề mặt câu chữ gƣơng mặt thi học xã hội, 2001 sĩ, chân dung tâm hồn giàu cảm xúc, nhạy cảm với vang động lớn lao Nguyễn Văn Cảnh Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Đại học trung học chuyên cuả thời đại rung động tinh tế lòng ngƣời Những rung động nghiệp, 1987 tạo nên chất thơ sâu lắng nồng nàn, tạo nên đồng cảm tâm hồn, Hữu Đạt Phong cách học tiếng Việt đại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả độc giả, nhƣ nét phong cách định hình sớm ngày rõ nét 2000 thơ Nguyễn Khoa Điềm Hữu Đạt Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 2001 Hà Minh Đức Thực tiễn cách mạng sáng tạo thi ca, NXB Văn học, 1977 Hà Minh Đức Thơ vấn đề thơ Việt Nam đại, NXB Khoa học xã hội, 1998 Hà Minh Đức Văn chương tài phong cách, NXB Khoa học xã hội, 2001 Hà Minh Đức Lý luận văn học, NXB Giáo dục, 2002 10 Nguyễn Khoa Điềm Đất ngoại ô, NXB Giải phóng, 1972 11 Nguyễn Khoa Điềm Mặt đường khát vọng, NXB Văn nghệ giải phóng, 1974 12 Nguyễn Khoa Điềm Ngôi nhà có lửa ấm, NXB Tác phẩm mới, 1986 13 Nguyễn Khoa Điềm Cõi lặng, NXB Văn học 2007 14 Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, 1997 15 Xuân Hoàng Một miền thơ thơ miền, Tạp chí văn học, số 2/1983 16 Khrapchenko Cá tính sáng tạo nhà văn phát triển văn học, NXB Tác phẩm mới, 1978 17 Lê Đình Kỵ Nhận diện thơ sau cách mạng tháng 8, Báo Văn nghệ, số 3/1995 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 105 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 106 18 Tôn Phƣơng Lan Nguyễn Khoa Điềm nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng, Tạp chí 35 Lê Lƣu Oanh Thơ trữ tình Việt Nam 1975- 1990, NXB Đại học Quốc gia Hà văn học, số 5/1976 Nội, 1998 19 Mã Giang Lân Tiến trình thơ đại Việt Nam, NXB Giáo dục, 2004 36 Pôspelôp Dẫn luận nghiên cứu văn học, NXB Giáo dục,1998 20 Mã Giang Lân Thơ đại Việt Nam lời bình, NXB Giáo dục, 2003 37 Chu Văn Sơn Trữ tình triết luận vẻ đẹp “Đất nước” Nguyễn 21 Mã Giang Lân Thơ hình thành tiếp nhận, NXB Đại học Quốc gia Hà Nôi, Khoa Điềm, Tạp chí văn học tuổi trẻ /2002 2004 38 Trần Đình Sử Dẫn luận thi pháp học, NXB Giáo dục, 1998 22 Nguyễn Văn Long Văn học Việt Nam thời đại mới, NXB Giáo dục, 39 Trần Đình Sử Thi pháp thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục, 1995 2003 40 Trần Đình Sử Mấy vấn đề quan niệm người Văn học Việt Nam 23 Nguyễn Văn Long Tiếp cận đánh giá văn học Việt Nam sau cách mạng kỉ XX, Tạp chí văn học tháng 8/ 2000 tháng Tám, NXB Giáo dục, 2001 41 Vũ Duy Thông Cái đẹp thơ kháng chiến, NXB Khoa học xã hội, 1998 24 Phƣơng Lựu Học tập tư tưởng văn nghệ Lênin, NXB Văn học, 1979 42 Thơ tình xứ Huế NXB Đà Nẵng, 2002 25 Phƣơng Lựu Tìm hiểu nguyên lý văn chương, NXB Khoa học xã hội, 43 Văn học Việt Nam chống Mỹ cứu nước NXB Khoa học xã hội, 1979 1983 44 26 Nguyễn Đăng Mạnh Nhà văn đại Việt Nam chân dung phong cách, Chí Minh, 1998 NXB trẻ TP Hồ Chí Minh, 2001 45 Viễn Phương – Thanh Hải - Nguyễn Khoa Điềm NXB Giáo dục, 1999 27 Nguyễn Đăng Mạnh Con đường vào giới nghệ thuật nhà văn, NXB 46 Trần Đăng Suyền Phong cách Thơ Phạm Tiến Duật, Tạp chí văn học, 3/2002 Giáo dục, 2000 47 Trần Đăng Suyền Mấy ghi nhận hệ nhà thơ trẻ thời kì chống Mỹ 28 Nguyễn Xuân Nam Mặt đường khát vọng, tiếng hát xuống đường Nhà văn thực cá tính sáng tạo NXB Giáo dục, 2002 Bằng Việt- Phạm Tiến Duật- Vũ Cao- Nguyễn Duy NXB Văn nghệ TP Hồ niên, sinh viên đô thị miền Nam, Báo Văn nghệ, số 568 ngày 20/09/1974 29 Nguyễn Xuân Nam Thơ tìm hiểu thưởng thức, NXB Tác phẩm mới, 1985 30 Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức Thơ Việt Nam hình thức thể loại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003 31 Nguyễn Thi, Chính Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, NXB Tổng hợp Khánh Hoà, 1992 32 Vũ Quần Phƣơng Đọc lại thơ chống Mỹ Nguyễn Khoa Điềm, Báo Văn nghệ, số 17 ngày 25/04/1983 33 Nhà thơ Việt Nam đại NXB Khoa học xã hội, 1984 34 Năm tháng đời trang viết NXB Thuận Hoá, 2002 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 107 Số hóa Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 108 - Xem thêm -Xem thêm PHONG CÁCH THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM, PHONG CÁCH THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM,
Thơ Nguyễn Khoa Điềm ❤️️ Tác Giả, Tác Phẩm + Tuyển Tập Thơ ✅ Khám Phá Những Thông Tin Thú Vị Về Cuộc Đời, Sự Nghiệp, Phong Cách Sáng Tác. Tiểu Sử Cuộc Đời Tác Giả Nguyễn Khoa Điềm Sự Nghiệp Sáng Tác Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm Đặc Điểm, Phong Cách Sáng Tác Của Nguyễn Khoa Điềm Nguyễn Khoa Điềm Được Mệnh Danh Là Gì Tuyển Tập Các Tác Phẩm Của Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm 15 Bài Thơ Hay Nhất Của Nguyễn Khoa ĐiềmĐất NướcKhúc Hát Ru Những Em Bé Lớn Trên Lưng MẹLời ChàoMẹ Và QuảSốngViết Cho Lần CuốiNgày VuiNơi Bác Từng QuaThời Đại Hồ Chí MinhMai Vườn Nở SớmLauChiều Hương GiangTắm Bến Hà KhêMiền QuêBuổi Đầu Tiểu Sử Cuộc Đời Tác Giả Nguyễn Khoa Điềm Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất trong giai đoạn chống Mỹ. Ông được mọi người biết đến với tư cách là một nhà thơ lớn, một nhà chính trị của Việt Nam. Hãy cùng tìm hiểu thêm về tiểu sử cuộc đời tác giả Nguyễn Khoa Điểm ngay sau đây nhé! Nguyễn Khoa Điềm sinh ngày 15-3-1943 tại thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Năm 1955 Nguyễn Khoa Điềm ra Bắc học tại trường học sinh miền Nam. Năm 1964 ông tốt nghiệp khoa Văn của Trường ĐH Sư phạm Hà Nội. Sau đó, ông về Nam hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên Huế; xây dựng cơ sở cách mạng, viết báo, làm thơ… cho đến năm 1975. Năm 1975 ông trở thành hội viên hội nhà văn 1975. Năm 1994 Nguyễn Khoa Điềm ra Hà Nội, làm Thứ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin. Năm 1995 Ông được bầu làm Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa V. Năm 1996 Ông là Đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá X và là Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin. Năm 2001 tại Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX, ông trở thành Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương 2001 – 2006 Hiện nay, ông đã nghỉ hưu và sống tại Thành phố Huế. Tìm hiểu thêm về 🌿Thơ Đỗ Phủ 🌿 Bên Cạnh Những Bài Thơ Nguyễn Khoa Điềm Sự Nghiệp Sáng Tác Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm Tìm hiểu chi tiết về sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Nguyễn Khoa Điềm được sinh ra trong gia đình có truyền thống yêu nước và hiếu học, do đó những áng thơ của ông đều hướng về tình yêu quê hương, đất nước. Có thể nó ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, thơ của Nguyễn Khoa Điềm thể hiện rõ được con người Việt Nam và bản chất anh hùng bất khuất của chiến sĩ Việt Nam. Một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Khoa Điềm Đất ngoại ô, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, trường ca Mặt đường khát vọng,… Tác phẩm được xem là thành công nhất của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, đó chính là bài thơ “Đất nước”. Bài thơ ra đời trên chiến trường Bình Trị Thiên vào mùa đông năm 1971. Với việc kết hợp tinh tế giữa ca dao và dân ca vào trong thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện được cảm nhận mới lại của tác giả đối với đất nước. Có thể nhận định bài thơ Đất nước là một tác phẩm thành công vang dội, mang đến cho người đọc một cái nhìn toàn vẹn về tinh thần dân tộc và tinh thần yêu nước. Bài thơ đã đi vào lòng nhiều thế hệ người Việt Nam và được đưa vào sách giáo khoa để giảng dạy cho học sinh trong chương trình Chương trình Ngữ văn THPT. Giải thưởng Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”. Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô giải B với tập thơ “Cõi lặng” – năm 2010. Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Đặc Điểm, Phong Cách Sáng Tác Của Nguyễn Khoa Điềm Chia sẻ cho bạn đọc các đặc điểm, phong cách sáng tác của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Các bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm thường lấy chất liệu từ văn học Việt Nam và cảm hứng từ quê hương, con người cũng như tinh thần chiến đấu của những người chiến sĩ yêu nước. Thơ ông hấp dẫn bởi sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước và con người Việt Nam. Là người trực tiếp tham gia chiến đâu nên thơ của ông rất chân thật và giàu tính chiêm nghiệm, đặc biệt là cảm xúc vô cùng sâu lắng mang đậm màu sắc trữ tình. Là một người có ý thức và trách nhiệm với đất nước, thế nên những câu thơ ông sáng tác thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của người công dân, người lính với đất nước. => Thơ ông giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén, mang màu sắc chính luận. Giới thiệu chi tiết về 🔰 Thơ Bạch Cư Dị 🔰Ngoài Chùm Thơ Nguyễn Khoa Điềm Nguyễn Khoa Điềm Được Mệnh Danh Là Gì Nguyễn Khoa Điềm được mệnh danh là gì? Thực tế ông không có một biệt danh đặc biệt nào khác, tuy nhiên ông có một tên gọi khác là Nguyễn Hải Dương. Ngoài ra mọi người còn biết đến ông với tư cách là một nhà thơ lớn và một nhà chính trị Việt Nam. Ông nguyên là Ủy viên Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Là bí thư Trung ương Đảng Cộng Sản khóa IX. Là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X và nguyên là bộ trưởng bộ Văn hóa và Thông tin. Tuyển tập các tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm mà bạn nên biết. *Đất và khát vọng +Đất ngoại ô 1972 Đất ngoại ô Nơi Bác từng qua Cái nền căm hờn Tiễn bạn cuối mùa đông Người con gái chằm nón bài thơ Mùa xuân ở A Đời Con chim thời gian Nỗi nhớ Con gà đất, cây kèn và khẩu súng Bếp lửa rừng Cát trắng Phú Vang Khoảng trời yêu dấu Từ những gì các anh trao? Thưa mẹ con đi Tôi lại đi đường này Nghĩ về một nhãn hiệu Gửi anh Tường Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ Lau Hình dung về Chê Ghêvara Tình ca Vỗ hờn Trên núi sông Màu xanh lên đường Bước chân – ngọn đèn Hồi kết cuộc Xanh xanh bóng núi Ngày vui Tháng chạp ở Hồng Trường Chiều Hương Giang +Mặt đường khát vọng 1974 Lời chào Báo động Giặc Mỹ Tuổi trẻ không yên Đất nước Áo trắng và mặt đường Xuống đường Khoảng lớn âm vang Báo bão *Các tác phẩm khác Anh đợi Ánh sáng Bạn ơi, bạn có nhớ? Bạn thơ Bây giờ là lúc… Biển trước mặt – Biển Biển trước mặt – Lời ru Biển trước mặt – Nắng cửa Tùng Bốn câu để lại Bốn mươi năm gặp lại… Buổi đầu Các nhà thơ trên đường Cánh đồng buổi chiều Cáp quang Cầu Long Biên Cây vú sữa trước sân nhà Có một ngày Cỏ ngọt Cỏ trước Ba Đình Cõi lặng Đất nước những tháng năm thật buồn Đêm thu ở Hội An Đi bên mùa thu Đi mãi vào rặng núi xa mờ Đọc thơ tứ tuyệt của Đỗ Mục Đồng dao mùa xuân Em, cây chò của anh Giữa ngày xa cách Hoa quỳ vàng Hồ Tây, 2011 Hy vọng Không có quyền mệt mỏi Kính tặng Nguyên Hồng Làng Phao Võng Lặng lẽ Lên núi thăm chùa Mai vườn nở sớm Mẹ và quả Miền quê Một con người Một người Mưa có nói gì không nhỉ? Mưa thu Ngàn năm Thăng Long Ngày đầu năm thăm lão danh tăng Ngày về Ngôi nhà có ngọn lửa ấm Ngũ ngôn ở An Hiên Người nằm bên Hồ Tây Người ở Yên Tử Nhân dân Nhớ Lưu Quang Vũ Nhớ một nhà thơ đã mất Nhớ Nguyễn Đ. Những bài hát, con đường và con người Những bài thơ tình viết trong chiến tranh – Bài 1 Những bài thơ tình viết trong chiến tranh – Bài 2 Những bài thơ tình viết trong chiến tranh – Bài 3 Những bài thơ tình viết trong chiến tranh – Bài 4 Những câu hỏi đầu năm Những quyển sách Nói với bạn bè trong cuộc họp Nói với nhà văn quá cố Ở tuổi sáu ba Sau ngày hội Sống Sông Hương Sự thật của cuộc ra đi Tắm bến Hà Khê Tặng một người sáng tạo Tập thiền Tháng giêng về Văn Giang Tháng tư Tháng tư, Trường Sa Thăm mộ ông bà Thấy người trở lại Trường ca Thơ tặng cháu ngoại Thời đại Hồ Chí Minh Tiễn biệt nhà thơ Tố Hữu Trên đường Trong cánh rừng hiện đại Trong những buổi chiều Trở lại A Lưới Tự do Thơ Nguyễn Khoa Điềm 1990 Uống rượu với bác Dương Văn Vượng Vào hạ Cửa thép Về quê đón Tết Viết cho lần cuối Viết cuối năm Viết ở Hàn Quốc Viết trong ngày Valentine Viết từ Đà Nẵng Có thể bạn quan tâm 👉Thơ Bà Huyện Thanh Quan 👈 Bên Cạnh Tuyển Tập Thơ Nguyễn Khoa Điềm 15 Bài Thơ Hay Nhất Của Nguyễn Khoa Điềm Mời bạn đọc thưởng thức 15 bài thơ hay nhất của Nguyễn Khoa Điềm ngay sau đây. Đất Nước Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồiĐất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kểĐất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ănĐất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặcTóc mẹ thì bới sau đầuCha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặnCái kèo, cái cột thành tênHạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàngĐất Nước có từ ngày đó… Đất là nơi anh đến trườngNước là nơi em tắmĐất Nước là nơi ta hò hẹnĐất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầmĐất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”Thời gian đằng đẵngKhông gian mênh môngĐất Nước là nơi dân mình đoàn tụĐất là nơi Chim vềNước là nơi Rồng ởLạc Long Quân và Âu CơĐẻ ra đồng bào ta trong bọc trứngNhững ai đã khuấtNhững ai bây giờYêu nhau và sinh con đẻ cáiGánh vác phần người đi trước để lạiDặn dò con cháu chuyện mai sauHằng năm ăn đâu làm đâuCũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ TổTrong anh và em hôm nayĐều có một phần Đất NướcKhi hai đứa cầm tayĐất Nước trong chúng mình hài hoà nồng thắmKhi chúng ta cầm tay mọi ngườiĐất nước vẹn tròn, to lớn Mai này con ta lớn lênCon sẽ mang đất nước đi xaĐến những tháng ngày mơ mộngEm ơi em Đất Nước là máu xương của mìnhPhải biết gắn bó san sẻPhải biết hoá thân cho dáng hình xứ sởLàm nên Đất Nước muôn đời… Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng PhuCặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống MáiGót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lạiChín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng VươngNhững con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳmNgười học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút, non cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnhNhững người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà ĐiểmVà ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãiChẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông chaÔi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấyNhững cuộc đời đã hoá núi sông ta… Em ơi emHãy nhìn rất xaVào bốn ngàn năm Đất NướcNăm tháng nào cũng người người lớp lớpCon gái, con trai bằng tuổi chúng taCần cù làm lụngKhi có giặc người con trai ra trậnNgười con gái trở về nuôi cái cùng conNgày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánhNhiều người đã trở thành anh hùngNhiều anh hùng cả anh và em đều nhớNhững em biết khôngCó biết bao người con gái, con traiTrong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổiHọ đã sống và chếtGiản dị và bình tâmKhông ai nhớ mặt đặt tênNhưng họ đã làm ra Đất NướcHọ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồngHọ truyền lửa cho mỗi nhà từ hòn than qua con cúiHọ truyền giọng điệu mình cho con tập nóiHọ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dânHọ đắp đập be bờ cho người sau trông cây hái tráiCó ngoại xâm thì chống ngoại xâmCó nội thù thì vùng lên đánh bạiĐể Đất Nước này là Đất Nước Nhân dânĐất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoạiDạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lộiBiết trồng tre đợi ngày thành gậyĐi trả thù mà không sợ dài lâuÔi những dòng sông bắt nước từ lâuMà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hátNgười đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thácGợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôiNgười dạy ta nghèo ăn cháo ăn rauBiết ăn ớt để đánh lừa cái lưỡiCái cuốc, con dao, đánh lừa cái tuổiChén rượu đánh lừa cơn mỏi, cơn đauCon nộm nang tre đánh lừa cái chếtĐánh lừa cái rét là ăn miếng trầuĐánh lừa thuồng luồng xăm mình xăm mặtĐánh lừa thằng giặc là chuyện Trạng QuỳnhNhưng lạ lùng thay, nhân dân thông minhKhông hề lừa ta dù ca dao, cổ tíchTa lớn lên bằng niềm tin rất thậtBiết bao nhiêu hành phúc có trên đờiDẫu phải khi cay đắng dập vùiRằng co Tấm cũng làm về hoàng hậuCây khế chua có đại bàng đến đậuChim ăn rồi trả ngon ngọt cho taĐất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoaHoa của đất, người trồng cây dựng cửaKhi ta đến gõ lên từng cánh cửaThì tin yêu ngay thẳng đón ta vàoTa nghẹn ngào, Đất Nước Việt Nam ơi!… Ta lớn lên khao khát những chân trờiNhững mảnh đất chân mình chưa bén đượcNhững biển khới chứa mặt trời đỏ rựcNhững ngàn sao trôi miết giữa màu xanhÔi có cách gì ta được ngắm những bình minhBuổi vũ trụ chớp bùng nên sự sốngVà ánh sáng trên chiếc xe vàng chuyển độngBỗng một ngày ấm áp kể ta ngheVề những con ngươi của thiên thể xa xôiMuốn bầu bạn với con người Trái đấtÔi phút đó ta vùng lên ngây ngấtMuốn ôm choàng hết tất cả trời mâyTrái tim tay nặng trĩu những mê saySẽ gieo xuống làm âm vang mặt đất… Nhưng em ơi, cái điều trông đợi nhấtVẫn những gì có thể có hôm nayTừ hôm nay, trên mảnh đất ta đâyTa nắm nó như sợi mây vững chãiRồi rút dần từ cánh rừng vĩ đạiCủa cuộc đời hằng nuôi dưỡng chúng taVà diệu kỳ thay! Ta bỗng loá bất ngờTa đã thấy cuộc đời vô hạnGiữa đất đai, nhân dân, bè bạnTa tìm ra ánh sáng của Con NgườiNhững Con Người làm sông núi sáng tươi… Những địa danh trôi từ thuở xa xôiTrôi bằng máu và trôi bằng nước mắtĐã đọng lại thành tên ngươi, tên đấtBao năm rồi suốt mặt pha, triền sôngNhưng không có con người nào đã trôi hết sâu nông Bằng những người dân miền Tây nghèo khổĐây không biển thì rừng làm biển cảMột biển xanh với cồn sóng ngút trờiHọ bám mình vào tấm rẫy nổi trôiRồi gục chết dưới màu xanh vĩnh viễnCuộc đời họ mênh mang bất địnhChỉ đó nghèo bám riết lấy màu daÔi mây trắng ngang đầu, gió dưới rừng xaĐất Nước ở đâu? Đâu là Đất Nước?Kờ-ruồng Kù tiệt!Tiếng suối hay tiếng chim?Tiếng người hay tiếng chiêng?Tiếng đá lăn, cây đổ?Thác gào hay đá nổ?Kờ-ruồng Kù tiệt!Kờ-ruồng Kù tiệt!Đất Nước! Đất Nước!Đất Nước trên miệng ta rồiTrong tim ta mangTrên chân ta bướcĐất Nước! Đất Nước!Cả núi rừng thét lên đồng loạt!Đó là năm dưới thời giặc PhápChúng hất hàng chục chòi Ta-ôi ra khỏi bản đồĐẩy họ vào những cánh rừng xanh không Tổ quốcChính lúc đóLửa đã cháy lên!Lửa ngàn đời từ mỗi bếp cháy lên!Đốt nhà! Ta đốt hết nhà!Địu con lên lưng vác giáo lên vaiĐánh trăm chiếc cồng xuyên thủng núiMắt người già quắc lên cho đàn trẻ theoTa đạp rừng nhằm phía Đông bươn tới!Ôi ta về nguồn! Về nguồn!Kờ-ruồng Kù tiệt!Kờ-ruồng Kù tiệt!Đất Nước! Đất Nước!Ôi ta về theo Đất NướcTa không chịu làm người dân không Đất NướcKhông Việt NamBiển rừng gào lên như muốn níu chân taBiển rừng không cuốn ta vào vô định nữaTa làm con suối rừng biết tìm sông mà tớiTa làm con nai biết tìm lối mà vềMặt trời mọc, mặt trời chỉ hướngÔi lòng ta có mặt trời soi sángTa trở về Đất Nước Tổ tiên ơi!…Và hôm nayKhi bom thằng Mỹ tớiCắt ngang những nói nhọn nhà làngChôn những nhà mồ vào đất bụiTa đánh lên tiếng cồngTa gọi vang rừng vang úiĐất Nước!Ta đánh lên tiếng chiêng cho cả Bắc Nam cùng nghe được!Nghe tấm lòng người Tà-ôi, Pa-kô, Cà-tuThuỷ chung Đất NướcRồi ta quăng cồng dưới suốiRồi ta chủ chiêng dưới câyTa điTrong âm vang yêu nướcTa đi với rựa và tênRựa ta mài vào gỗ thành nươngTên ta gài xuống đất thành bẫyThằng Mỹ vào thì xác mà để đấy!Thằng nguỵ vào thì xác nó đừng chôn!Cho cháu con ta, ai sau nữa, được nhìn!Ôi Đất Nước đầu mũi daoĐất Nước đầu mũi tênĐất Nước đầu tiếng chiêngĐất Nước là ngọn lửaĐất Nước tràn lên từng đỉnh núiĐất Nước thiêng liêng… Đêm nay ta lên hết mặt sông Hồng!Nước đánh động dưới chân ta rồiĐất NướcĐang gọi ta từng hồi trống thúcĐất Nước xoáy nhào tim taKý ứcĐất Nước muôn đời đang vặn mình, đang sôi… Chúng ta là người dân miền NamNhung tôi biết anh gốc gác họ Hoàng Kinh BắcCòn tôi họ Nguyễn tỉnh ĐôngHuyết thống ta trôi trên bán đảo âm thầmHôm nay bỗng réo sôi từng hồi từng trậnKhi cơn lũ đang lao qua châu thổ sông Hồng! Ta lên hết mặt đê sông Hồng!Dẫu chỉ bằng tâm tưởngỞ đâu đó ta không còn nhớ nữaSao tổ tiên ta cầm cuốc, cầm càyCầm giáo, cầm khiên và cất tiếng hát lưu đàyĐể xa châu thổ từ độ ấy… Ôi những gốc tre tổ tiên ta từng thấyVẫn còn nguyên trên bờ bãi sông HồngLúa lên xanh trên những cánh đồngCũng có tay cha ông in vào trong lúaSâu thẳm quá cho đến từng mái rạCũng có dáng một ngày cha ông khăn gói bước ra Ôi những gì Người đã ước mơThì bây giờ cũng thơm lá thơm hoaNên hôm nay chúng taPhải lên hết đê sông Hồng mà giữ lấy! Đất NướcPhải chặt tre, đóng cọc mà giữ lấy!Đất NướcPhải đan phên, đổ đất mà giữ lấy!Đất NướcPhải phá nhà, chặt cây vườn vác ra mà giữ lấy!Đất NướcPhải neo người xuống sông, chặn nước mà giữ lấy!Đất NướcĐất Nước không thể trôi được!Máu xương, mồ mả tổ tiên đã trôi điNhững dòng họ đã trôi điNhưng hôm nay không thể nào trôi được!Đất NướcĐang gầm lên trong sóng gió ngất trờiHàng chục triệu thước khối nước đang lao vào mặt đấtCuộc xáp trận của vật chất muốn đè vật chấtCủa thiên nhiên đè xuống con ngườiTa vươn mình gánh lấy đất đaiTa ném máu xương ta vào làm vật cảnTất cả ý chí và sinh mạngPhải được vai dựa vào vai, đùi gối lên đùiĐẩy con đê sông Hồng tiến lên phía trướcThắng giặc Mỹ hay thắng giặc nướcĐều nhất tề xung phong! Sơn Tinh đang nhìn ta lo lắng đăm đămCả nhân loại đang nhìn ta cổ vũCon cháu ta mai sau hối hả lật từng trang lịch sửNgợp trước con đê sông Hồng lên cao, lên cao…Chào 4000 năm! Con đê như một cánh tay caoCủa thế trận những người làm chủLàm chủ cuộc đời và lướt từng đỉnh lũBảo vệ miến Bắc, chi viện miền Nam! Mẹ Việt Nam ơi!Đêm nay con về gối đầu trên cánh tay của MẹÔi cánh tay rắn rỏi, dịu hiềnLấm láp bùn lầy nhưng ấm áp niềm tinĐó là hai cánh đê sông Hồng của MẹMẹ phả vào mặt con nồng nàn mùi sữaCủa những đồng xa nguyên vẹn như mùaCon đã đi xa từ thuở ấy đến giờNay bọn Mỹ còn cắt chia Đất NướcNhưng đêm đêm con trở về thân thuộcNgủ trên cánh tay Mẹ hiền từ cay đắng nuôi conTrong tháng năm chớp bể mưa nguồnRu con lớn và làm người thương Mẹ… Đã có một thờiAi muốn vào châu Mỹ La-tinhĐến trước vịnh Ca-ra-ipSẽ không cần dùng địa bànCứ nhìn những xác da đenTrôi bập bềnh trên biểnNhững xác da đen chỉ hướngĐưa anh vào “mảnh vườn sau” của chủ nghĩa thực dânĐã có một thờiAi muốn đến Việt NamCứ theo gót những đàn ngựa phương BắcHay chữ thập trên tàu buôn nước PhápCác bạn sẽ tìm ra Việt NamBởi vì ngày ấyNước chúng tôi chưa có trên bản đồ thế giớiNgôn ngữ loài người chưa biết hai chữ “Việt Nam”Và dẫu bạn đến đâyChỉ có những tên đô hộ phủ toàn quyềnĐứng ra tiếp bạnNhưng hôm nayBạn hãy đi theo những đoàn đi bộ tuần hànhMang những lá cờ sao vàngỞ Pa-ri, ở Mát-xcơ-va hay Xtốc-khômBạn sẽ đến được Việt Nam tôi đó Bởi vì Việt Nam hôm nayNằm giữa lòng thế giớiNằm trong tim nhân loạiNằm trên con đường dẫn ta tới giá trị Con Người…Bởi vì Việt Nam hôm nayLà Việt Nam chống MỹChúng tôi gánh trên vai hành trang nặng nề của thế kỷĐể bạn bình tâm bước vào ngưỡng cửa Tự do… Bạn đến đâyĐã có Bác HồVà Nhân dân tôi sẵn sàng đón bạnDẫu Người đi vắngBạn có thể đến nhà Người thăm một khóm hoaRồi cùng nhân dân tôi trò chuyệnNhân dân tôi đẩy tình yêu mếnĐã được Người dặn dò trước phút đi xa… Bạn hỏi vì sao cúng tôi yêu quý Bác HồBởi vì Người là Người đầu tiênVề với Đất Nước chúng tôiMang chủ nghĩa Mác-Lê ninChứa trong trái tim yêu nước nhấtKhi Người đặt tay lênHòn đất Việt Nam đầu biên giớiThì từ đóĐất không phải là đất nữaĐất là chiến hàoĐất là cạm bẫyĐất là hoa tráiNuôi chúng tôi, che chúng tôi cầm súng lên đường! Có Người, chúng tôi có lại Hùng VươngCó lại dáng búp sen nghìn năm của chùa Một CộtVà những búp sen miền Nam tận bùn lầy Đồng ThápCó Người, cũng đã thành thơCó Người, mỗi mũi tên đồng Cổ LoaKhông chịu vùi dưới đấtKhông nằm yên trong viện bảo tàngChúng bay lên xé gió thời gianMở hết đường bay qua thăng trầm lịch sửĐể cắm vào đầu giặc Mỹ!Có Người, pho Bồ Tát nghìn tay nghìn mắtBiết toả hào quang từ hàng chục cánh tayCó Người, pho Bồ Tát triều Lý chỉ còn đầuVẫn nguyên vẹn trong lòng chúng tôi nhờ búi tóc thời vua Hùng để lạiVà pho Kim Cương trên đôi chân vững chãiDẫu mất đầu vẫn giữ một dáng đứng Việt NamĐấy, Đất Nước chúng tôi đổ vỡ biết bao lầnCả những pho từ bi cũng không ngoài hoạn nạnNhưng có Người, những cái mất đi phải trả về hình dángQuá khứ được nhìn từ đôi mắt Hôm NayVà Hôm Nay từ đôi mắt Ngày MaiChúng tôi sống bằng Tương lai một nửaBằng tình yêu vô hạn những con ngườiNhư Hôm Nay nhìn Đất Nước cắt đôiChúng tôi đã thấy ngày hàn gắn… Bởi vì Người là người đầu tiênYêu miền Nam trong trái tim mìnhYêu tuổi trẻ miền Nam 25 nămChưa có được ngày hạnh phúc Mà Người dạy chúng tôiHãy bền gan đánh giặcDẫu phải chết cũng không khuất phục“Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do!” Chúng tôi là con cháu Bác HồCó nghĩa là chúng tôi giống BácNhững gì còn non nớtChúng tôi học tập để sống, chiến đấu như Người Bởi vì Người là đất nước của chúng tôiMỗi sợi tóc trắng của Người đều ghi ngày gian khổ nhấtCủa Đất Nước, những năm dài đánh giặcĐôi dép của Người mòn vẹt gótNgười đã đi những ngả đường Đất Nước hành quân Trái cà Người ănCũng là trái cà nuôi người anh hùng đầu tiên – Thánh GióngCây gậy Người cầmCũng có thể tìm trong trăm ngàn gậy vượt Trường SơnÝ chí của NgườiÝ chí toàn dân tộcLý tưởng của NgườiSự sống chúng tôi mang…Hồ Chí Minh – Việt NamBạn và tôi cùng gọiHồ Chí Minh – Việt Nam Em nghe không trái thị đã rơi xuống tay NgườiTrái không chỉ rơi vì sức hút đất đaiTrái rơi vì tay Người ao ướcKhi trái chạm vào tay Người và Người ấp ủThì lừng hương tay Người và Người ấp ủThì Lừng hương và cô Tấm bước raĐi trả thù và sống Tự do…Không rơi xuống bùn, ôi trái thị quê taĐể bùn lấm và thành bùn vạn kiếpRơi vào tay Người, đó là định luậtCủa đấu tranh và nhân nghĩa Việt Nam Tuổi trẻ ơi trong sương gió tháng nămTa đã lớn rồi, chín đầy hy vọngHãy ngã xuống tay Nhân dân, hỡi sắc vàng cảu nắngHỡi hương thơm của nồng mặn mồ hôi.. Hãy ngã vào tay Nhân dân, đừng vãi đừng rơiĐừng tự do, đừng hoài nghi nữaHãy yêu Nhân dân và nghe Người nhắn nhủHãy tìm sức mạnh mình trên cơ thể Nhân dânNhân dân đang đi lên đội ngũ trùng trùngThế vô tận của nghìn năm giết giặcLửa đã cháy hồng hào mặt đấtMùa chín tình yêu, mùa chín hận thù! Không bao giờ xương máu phải bơ vơÔi sông núi nghi ngàn dặm đấtCó nghe tiếng chúng con Xin có mặtNguyện làm người xung kích của quê hươngĐây tiếng hát chúng conTiếng hát xuống đường! Khúc Hát Ru Những Em Bé Lớn Trên Lưng Mẹ Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi,Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng giã gạo mẹ nuôi bộ đội,Nhịp chày nghiêng, giấc ngủ em hôi mẹ rơi má em nóng hổi,Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối,Lưng đưa nôi và tim hát thành lời Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngoan a kay hỡi,Mẹ thương a kay, mẹ thương bộ độiCon mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần,Mai sau con lớn vung chày lún sân… Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi,Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng đang trỉa bắp trên núi Ka–lưiLưng núi thì to, mà lưng mẹ nhỏ,Em ngủ ngoan em, đừng làm mẹ trời của bắp thì nằm trên đồi,Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng. Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngoan a kay hỡi,Mẹ thương a kay, mẹ thương làng mơ cho mẹ hạt bắp lên đềuMai sau con lớn phát mười Ka–lưi… Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi,Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng đang chuyển lán, mẹ đi đạp Mỹ đuổi ta phải rời con suốiAnh trai cầm súng, chị gái cầm chông,Mẹ địu em đi để dành trận trên lưng mẹ em đến chiến trường,Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn. Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngoan a kay hỡi,Mẹ thương a kay, mẹ thương đất mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ,Mai sau con lớn làm người Tự Do… Lời Chào Ta đã đi qua những năm tháng không ngờVô tư quá để bây giờ xao xuyếnBèo lục bình mênh mang màu mực tímNét chữ thiếu thời trôi nhanh như dòng sông… Ta lớn lên bối rối một sắc hồngPhương cứ nở hoài hoà như đếm tuổiNhư chiều nay, một buổi chiều dữ dộiTa nhận ra mình đang lớn khôn… Biết ơn những cánh sẻ nâu đã bay đến cánh đồngRút những cọng rơm vàng về kết tổĐá dạy ta với cánh diều thơ nhỏBiết kéo về cả một sắc trời xanhBiết ơn mẹ vẫn tính cho con thêm một tuổi sinh thành “Tuổi của mụ” con nằm tròn bụng mẹĐể con quý yêu tháng ngày tuổi trẻBuổi mở mắt chào đời, phút nhắm mắt ra đi… Biết ơn trò chơi tuổi nhỏ mê ly“Chuyền chuyền một…” miệng, tay buông bắtNgôn ngữ lung linh, quả chuyền thoăn thoắtNên một đời tiếng Việt mãi ngân nga… Biết ơn dấu chân bấm mặt đường xaNhững dấu chân trần, bùn nặng vếtTa đi học quen dẫm vào không biếtDáng cuộc đời in mãi dáng ta đi… Biết ơn dòng sông dựng dáng kiếm uy nghiTrong tâm trí một nhà thơ khởi nghĩaCao Bá Quát ngã mình trên chiến địaTrăm năm rồi sông vẫn sáng màu gươm… Trăm năm rồi ta đếm bước sông HươngVẫn soi thấy niềm đau và nổi giậnKhuôn mặt trẻ bỗng già trên lớp sóngNgẩng đầu lên, ta thấy mặt quân thù! Mẹ Và Quả Những mùa quả mẹ tôi hái đượcMẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồngNhững mùa quả lặn rồi lại mọcNhư mặt trời, khi như mặt trăng. Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lênCòn những bí và bầu thì lớn xuốngChúng mang dáng giọt mồ hôi mặnRỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi. Và chúng tôi, một thứ quả trên đờiBảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được háiTôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏiMình vẫn còn một thứ quả non xanh? Sống Không thể nào chấp nhận sốngCho dù được đặt hoa trước cửaHát véo von trên cánh đồngThắp hương người dưới mộThiệp hồng như chim bayĐồng tiền chuồi qua khung thể nào chấp nhận sốngVới lời cầu xin, lời doạ nạtCon người luôn đi sau thời gianĐể thời gian chỉ còn báo mộngKhông thể nào bưng hai tayMột bình an đặng sốngKhông thể nào cúi đầuNhìn ngón chân bất thể nào chấp nhận sốngMà không biết mình về đâuKhông biết mình có thể làm gìBuồn vui theo kẻ thể nào chấp nhận sốngTrong sợ hãi, trong lọc lừaChẳng nhớ tim mình còn thể nào chấp nhận sốngKhi mình chưa là mìnhTrống trơ như vực thẳm…Ngày ta sốngKhi mình là sự sốngTừ ra đi đến trở vềTừ hư vô đến bụi đờiKim cương bất hoại. Viết Cho Lần Cuối Anh chẳng mong chôn vào đá, vào đồngChỉ có thể là đất đai thân thuộcSâu một thước với tứ chi còi cọcCũng đủ mời giun dế đến lai raiAnh chẳng thiêng, cũng chẳng doạ dẫm aiXin đừng ngại, ngọn cỏ hiền sẽ mọcTrên mặt đất, một dáng hình đã khuấtTrong mây chiều hay sương sớm mai Phải không em, chỉ nỗi khát làm ngườiAnh đã chọn với hai hàng nước mắtKhi cái chết làm phép trừ vô cựcAnh là anh, mãi mãi vẫn là anh… Ngày Vui Tôi qua dòng sông yên tĩnhCon cầu như tiếng ngân vuiTiếng ve ấm bừng trí nhớSen lên thơm bốn mặt thànhNgày vui của đời ta đóGió thổi đường dài bâng khuâng… Đất nước ba mươi nămTrên vai sắt thépĐi suốt cuộc trường chinhĐi qua tuổi trẻĐi qua những cuộc tiễn đưa lặng lẽ, không hoaVà bây giờ đất nước nở hoaGầm trong hai mươi mốt phát đại bác rung trờiChào Chiến Thắng! Đất nước của tôiTôi muốn quì trước chân NgườiĐặt môi mình trên nguồn thẳmIn trán mình vào cát mặnTung tăng hoài mỗi gốc lúa làng quêHát khúc đồng dao về Độc Lập, Tự Do… Mẹ ơi, con trở lại nhàSau lưng con cánh cửa chiều khép nhẹMẹ lại ngồi trước bếp chiều lặng lẽNấu cơm cho chúng con ănÔi những hạt gạo nổi chìm ba mươi nămĐời mẹ tảo tần cay đắngTừng nuôi chúng con làm nên chiến thắngBây giờ chưa đủ chúng con noNhưng căn nhà mình lộng gió tự doReo tiếng trẻ những mùa làm lụng mới… Mẹ thân yêu, với tấm lòng trọn vẹnMẹ vẫn khơi bếp lửa hồng như cổ tích, ca daoVề những gì mong đợi ở mai sau… Nơi Bác Từng Qua Nơi mẹ sinh con ra nơi Bác từng quaNăm tháng ấy bây giờ con mới rõTóc mẹ bạc rồi, những năm đói khổKinh đô đau buồn – nơi Bác từng học nào Người đã đến ngồi đâyNhững mùa thu im lìm lá đổNhư vùi sâu cả bầu trời xứ sởXuống dòng sông nức nở khúc Nam ai?Góc chợ Xép, nơi nào Người đến ởHàng phượng nào từng nở một mùa hoaĐã rải đỏ tâm hồn người thưở đóMột sắc cờ vẫy gọi buổi Người xa?Ôi trái mù u động dưới chân NgườiCòn muốn theo Người ra cản giặcNgười culy nào hai càng xe khoá chặtSẽ cầm cờ đi trong tương lai?Kinh đô mất, nhưng lòng Người không tắtTừ đau thương, chân lý đến nơi nàyTổ quốc lớn lao là Tổ quốc của người chân đấtHát dân ca và cầm búa, cầm buổi ấy… Người đi không trở lại,Nhưng thành phố vẫn đi trên những bước chân NgườiThành phố vẫn khoác hai màu trời thu thương nhớ mãiNăm Bốn mươi lăm và ngày Bác mất, Bác Hồ ơi!Thành phố Bác qua đã thành nơi chiến đấuĐuổi Nhật, Tây và hất đổ ngai vàngGiặc Mỹ kéo vào. Mỗi tiếng Người vang vọng“Vì độc lập, tự do…” – Thành phố lại lên đường…Nơi ấp ủ những dấu chân hy vọngNgười trồng cây đến hái trái cây vềNên hôm nay trước trận cuối cùng đánh thắngBước Người về, cả thành phố lắng nghe… Thời Đại Hồ Chí Minh Khi những anh hùng ngẩng cao đầu ngã xuốngMiệng hô vang Hồ Chí Minh, Hồ Chí MinhLịch sự như một con tài cất tiếng còi cháy bỏngBáo ga này ga Hồ Chí MinhKhi đoán cháu con lại nối tiếp cha anhTiến trên đường Hồ Chí Minh đuổi giặcLịch sử sẽ khởi hành trên con đường ngắn nhấtVào tương lai thơi đại Hồ Chí MinhKhi những em bé đến trường trong tình thương bè bạnNhững dân tộc vùng cao viết chữ cụ Hồ trong núi bắngLịch sử sẽ lật từng trang nhanhTrong ánh sáng thời đại Hồ chí MinhTừ đau thương ta đứng dạy quên mìnhLẽ sống là con đường diệt MỹDáng vóc lớn khi ta cầm vũ khíViệt Nam hùng vĩ nước non nàyTrên đất nước nghìn năm những nông dân lại tập cấy càyNhà bác học phải nghĩ suy từ ba sào chua mặnNăm tấn thóc để làm thép gang mặt trậnCũng là bài ca theo suốt những đoàn quânTa lại có tình yêu sáng ngời hơn trăm nét hoa vănCó nỗi vui một câu ca dao, một trang Kiều mơ ướcCó trời xanh Ba Đình ai cũng nhìn ngắm đượcCó đời ta trọn vẹn giữa đời dânTa thêm yêu tin mỗi thước đất ta nằmĐường ra trận ta thương từng bóng láNgủ hầm sâu ta quý từng lớp gióĐất nước này ta yêu ta thânÔi đất nước Hồ Chí MinhChưa bao giờ nghĩ suy của ta cao rộng thếTừ việc đầu tiên là việc đuổi Mỹ dựng nhàCho đến việc dạy em bé đừng đi chân khôngVà chuyện riêng sinh đẻBa mươi triệu người dân lo toan bằng tấm lòng người cha, người mẹThời đại Hồ Chí Minh chúng taSung sướng thay mỗi người dân đều được thấy Bác HồCàng nhớ dáng những vua Hùng thời lập nướcBốn ngàn năm nghĩa là bốn ngàn năm có đượcMột bây giờ thời đại Hồ Chí MinhÔi ta đã góp những chiếc nôi ngày nhân loại khai sinhNay đã góp máu xương chọ trọn ngày chiến Việt Nam xanh màu trên châu Phi cát trắngNhững Việt Nam khoác súng tường trên châu Mỹ La-tinhNhững Việt Nam chân lý Hồ Chí MinhÔi Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh…Điệp khúc lớn những mùa thu ra trậnChúng con đi bát ngát tự hàoMảnh trời xanh sau rừng biếc bay caoNhư tay bác như tay thời đại vẫyĐường giải phóng dù gian lao máu chảyChúng con đi bền bỉ sức thanh xuânĐang lớn lên như Phù Đổng trăm lầnQuyết đánh thắng bầy hung nô thể kỉQuyết thắp sáng trong tầm cao ý chíChân lý người k có gì không có gì quý hơnĐộc lập tự do, Hồ Chí Minh thời đại sáng tên người Mai Vườn Nở Sớm Năm nhuận, cả vườn mai nở sớmNhững vội vàng tan tác trước Văn LâuThì hãy nhận những cành xanh mới chớmMột mùa xuân bừng biếc sắc ngày sau… Lau Xe đi trong rừng lauLau làm mây, lau làm bàn tayVuốt nhẹ vào buồng láiBuồng lái ta có giàn tre làm máiThêm lau che đường, buồng lái hóa nhà taKỷ niệm tuổi thơ phơ phất bóng lau quaLớp trẻ đi những triền đồi bãi sóngTrên vai bạn cờ lau tập trậnLịch sử ngàn xưa là ước mơ nayXe đi trong rừng lau gió lay..Những hòm đạn ba-mươi-cân nén chặt thùng xeNhững tải gạo năm-mươi-cân căng tròn nóng hựcTruyền thuyết xưa và thần thoại nayLấp lánh khung trời cánh hoa lau bayThung lũng A Xo một bầu cộng hưởngBê-năm-hai và pháo địch rú gàoNhưng năm năm trời xe ta đi là thếDìu dắt cửa ngoàn vẫn tiếng lau xaoYêu những đồi lau ra trận đêm naoLau thắp sáng hai bờ vực thẳmQua trọng điểm gạt mồ hôi thấp nhámNhững bông lau vướng vít tự bao giờMột màu hoa sáng loáng cả mùa khôMàu tốc độ trên tuến đường vận chuyển. Chiều Hương Giang Sau chiều nay, còn buổi chiều khác nữa,Có thể mây cao, có thể nắng vàng,Cơn gió thổi những buổi chiều chưa tớiTóc bao người bay rợi cả không gian… Nhưng chiều nay, con bò gặm cỏ,Bên dòng sông, như chưa biết chiều với nó lặng im, bè bạnMắt nó nhìn dìu dịu nước Hương Giang. Những buổi chiều, những buổi chiều quê hương,Tôi đã sống và tôi chưa được sống,Nhưng chiều nay, vô tình trong nắng muộn,Mắt tôi nhìn trong suốt nước Hương Giang… Tắm Bến Hà Khê Mười năm dầu dãi, đường xa ngái,Bây giờ về tắm bến Hà lên tháp cổ cao trông đợi,Cúi xuống dòng xưa chợt ấu thơ. Miền Quê Lại về mảnh trăng đầu thángMông lung mặt đồng bóng chiều,Tiếng ếch vùi trong cỏ ấmLúa mềm như vai thân yêu Mùa xuân, là mùa xuân đấyThả chim, cỏ nội hương đồngĐàn trâu bụng tròn qua ngõGõ sừng lên mảnh trăng cong Có gì xôn xao đằm thắmBao nhiêu trông đợi chóng chầyĐàn em tóc dài mười támThương người ra lính hôm mai Để rồi bao nhiêu gió thổiBên giếng làng, ngoài bến sôngCó tiếng hát như con gáiCao cao như vầng trăng trong… Buổi Đầu Tặng con gái Kìa cái bông hoa làm con ngãKìa tiếng chim sẻ cười làm con nín khócKìa cái nắng dắt con dạo chơiCha mẹ đi làm, con một mình tha thẩnNgã, đứng dậy, khóc, cười một mình… Bốn mươi tuổi rồi, lắm khiCha cũng ngã, đứng dậy, khóc cười một mìnhCuộc đời cha dễ đâu toàn vẹn Xa conCha đau đáu nhớ thươngCha gọi thầmNỗi chịu đựng của cha ơiNiềm mong đợi xót xa của cha ơiCon hãy nắm chắc thế giới này trong hai tayNgay tự buổi đầuNhững chim,Những hoa,Những nắng… Xem ngay các thông tin thú vị về 🌸Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ 🌸Tìm hiểu chi tiết
phong cách thơ của nguyễn khoa điềm